| Le's profileTrung Tâm Giáo Dục LÊ QU...PhotosBlogLists | Help |
Trung Tâm Giáo Dục LÊ QUÝ ĐÔN - Trang VÂN ĐÀI LOẠI NGỮ (蕓臺類語页)do Nhóm Cựu Học Sinh Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn Tự Do phụ trách. Mọi thư từ, hình ảnh hay tin tức xin gởi về vandailoaingu@hotmail.com |
||||
TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (06) - TRẦN HIẾU ĐỄTiếp theo
Chương ba: Những ngày cuối ở Đông Kinh
Ngày thứ tám
Sáng hôm nay, gia đình tôi lấy xe lửa đi Yokohama để thăm một người bạn Nhật mà chúng tôi quen ở California. Thành phố cảng Yokohama, nằm trong Vịnh Tokyo, và là trung tâm thương mại quan trọng. Ngồi hóng gió ở bến tàu cũng thoải mái.
Sau đó chúng tôi đi thăm Phố Tàu Yokohama. Đây không những là phố Tàu lớn nhất Nhật Bản, mà còn cả Á Châu. Hoa kiều đã sang đây lập nghiệp từ giữa thế kỷ thứ 19. Phần lớn những người Hoa hiện nay sanh ra tại Nhật nên họ ít biết nói tiếng Quảng mặc dù tổ tiên của họ đến từ Quảng Châu. Có khoản trên dưới 200 tiệm ăn ở đây. Phải thành thật mà nói, thức ăn Tàu ở đây không ngon. Có lẽ vì họ thay đổi lối nấu để cho hợp với khẩu vị của người bản xứ chăng? Ngay cả các vật liệu nấu cũng không phải là đồ Tàu chánh hiệu con nai vàng. Dùng mì sợi của Nhật để nấu mì xào kiểu Tàu thì còn ra cái thể thống gì nữa, hả Trời? Đi cho biết vậy thôi, chứ chẳng có gì thú vị. Bạn cũng sẽ gặp các tiệm bán đồ chạp phô hay bán đồ lưu niệm rẻ tiền (dĩ nhiên là Made in China) như ở bất cứ phố Tàu nào trên thế giới. Chỉ được một cái là ta có thể tìm được các loại rau quả quen thuộc không có ở các chợ của Nhật, chẳng hạn như rau muống hay cải làn. Giá cũng nới hơn ở chợ Nhật. Nói nới là tương đối thôi vì một bó rau muống cỡ 100 gram giá 1 đô-la, tương đương với 4 đô-la rưỡi 1 pound (trong khi ở Cali chỉ 79 cents thôi)!
Chiều nay, khi trở về Tokyo, chúng tôi ghé thăm Tháp Tokyo. Tháp Tokyo, cao 333 mét, được xây vào năm 1958, phỏng theo Tháp Eiffel, và được dùng làm tháp phát sóng và trạm quan sát. Vé vào cửa khoảng 8 đô. Từ trạm quan sát chánh ở độ cao 150 mét, chúng ta có thể nhìn thấy Tokyo 360 độ, và cả núi Phú Sĩ về phía Nam vào những ngày quang đãng. Quán ăn và các cửa hàng bán đồ lưu niệm cũng hiện diện ở đây để phục vụ du khách. Trên sàn của trạm quan sát có hai ô kính để bạn có thể nhìn thẳng xuống dưới đất. Ai bị chứng acrophobia (sợ độ cao) thì chớ liều ngó xuống. Song Long của tôi gan cùng mình, chẳng sợ tí nào!
Ô kính trên sàn tháp Tokyo
Từ chạng vạng cho đến nửa đêm, Tháp Tokyo được chiếu sáng. Từ khoảng đầu tháng 7 tới đầu tháng 10 thì dùng đèn màu trắng, những tháng còn lại thì đèn màu cam.
Tháp Tokyo nằm gần khu vực Roppongi (Lục Bổn Mộc), là nơi tập trung đại sứ quán của nhiều nước nên giải trí về đêm rất là nhộn nhịp. Đây cũng là nơi tập trung nhiều ngoại kiều. Tôi sẽ kể thêm về nơi này vào phần sau. Tháp Tokyo về đêm
Còn Tiếp
Kỳ sau: Hòa Thực TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (05) - TRẦN HIẾU ĐỄTiếp theo
Ngày thứ bảy
Sáng nay, chúng tôi đến tourist office để xin bản đồ xe bus thành phố để làm một self-guided tour. Trạm dừng chân đầu tiên là Ginkaku-ji (Ngân Các Tự). Nghe tên tưởng là chùa giác bạc (như Kim Các Tự giác vàng), nhưng thật ra ngôi chùa này không hào nhoáng lắm. Ngân Các Tự được Tướng Quân Ashikaga Yoshimasa cho xây năm 1482, dựa theo Kim Các Tự, để làm nơi an dưỡng khi về già. Khung cảnh nơi đây còn tĩnh mịch hơn cả Kim Các Tự vì có rất ít du khách đến đây thưởng ngoạn. Ở ngoại vi của chùa có một con kinh đào mà con đường dọc theo đó, được mệnh danh là Tetsugaku-no-michi hay Philosopher's Walk (Triết Học Chi Đạo). Tương truyền rằng Giáo sư Triết Nishida Kitaro của Đại Học Kyoto thường hay thiền khi đi dọc trên lối này. Dọc theo lối đi này là hàng cây anh đào Sakura. Nghe nói vào đầu mùa xuân, cả con đưòng ngập hoa đào trông rất đẹp. Đến Kyoto vào mùa hè nên chỉ có lá xanh thôi. Nhưng nhờ vậy mà mát mẻ, dễ chịu. Nghe nói mùa thu ở đây cũng nên thơ lắm nên lần sau có dịp sẽ ghé lại.
Trong khuông viên Ginkaku-ji, Kyoto
Kế đến, chúng tôi ghé qua Otowa-san Kiyomizu-dera (Âm Vũ Sơn Thanh Thủy Tự) trên đường trở về ga Kyoto. Từ đường cái, phải leo một con dốc khá dài mới tới chùa. Chùa được xây năm 798 và là một di sản UNESCO. Tất cả các tháp, điện trong chùa được xây cất mà không dùng đến một cây đinh. Tên chùa được đặt theo tên dòng thác Otowa, nước trong suốt chảy ra ba đường rãnh phía sau chánh điện. Nếu khách viếng chùa uống nước chảy từ ba rãnh này sẽ được sự khôn ngoan, sức khỏe và sự trường thọ. Tuy nhiên, không ít người Nhật nghĩ rằng, nếu ai tham lam mà uống nước từ cả ba dòng, sẽ chuốt lấy sự bất hạnh.
Kiyomizu-dera, Kyoto
Trong khuôn viên Kiyomizu-dera
Kyoto cũng là nơi nổi tiếng với các geisha (vân gia), tập trung tại khu Gion (Kỳ Viên). Khu vực này chỉ nhộn nhịp sau khi hoàng hôn về nên tôi không có dịp nhìn tận mắt các cô geisha (ở Kyoto họ được gọi là geiko hay vân tử) danh tiếng này. Gion là khu vực geisha nổi tiếng nhất nước Nhật hiện nay. Vả lại vì không được rủng rỉnh xu teng nên xin nhường lại cho các bậc phú gia.
Với muôn vàn tiếc nuối, tôi và gia đình rời Kyoto để trở về Tokyo. Trên chuyến shinkansen này, tôi mới để ý một chuyện. Từ nhân viên xét vé đến các cô đẩy xe bán thức ăn, họ đều cúi chào hành khách khi bước vào cũng như khi rời toa xe. Một ấn tượng đẹp mà tôi không bao giờ quên!
Về đến Tokyo 20 giờ tối. Thành phố vẫn đông nghẹt người. Có người so sánh là lấy New York City rồi ép lại còn một phần tư diện tích là thành Tokyo. Tôi chưa từng đến New York nên không dám có ý kiến. Chỉ biết mật độ dân số ở Tokyo thật kinh khủng. Do đó nếu được hỏi tôi thích nơi nào hơn, thì câu trả lời sẽ là Kyoto. Nếu có duyên may thì mong là sẽ còn dịp ghé lại Kinh Đô. Lưu lại một vài tháng? Khi trở về Mỹ, chắc tôi phải mua vé số mỗi tuần…
Còn Tiếp
Kỳ sau: Những ngày cuối ở Nhật TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (04) - TRẦN HIẾU ĐỄTiếp theo
Kinh Đô Hoàng Cung (Kyoto Imerial Palace), như tôi đã nói ở trên, không có hào lũy bao bọc chung quanh, là cung điện chính thức của hoàng gia Nhật, mặc dù Nhật Hoàng và hoàng hậu ngự ở hoàng cung tại Đông Kinh. Đây là nơi diễn ra lễ lên ngôi của Thiên Hoàng Taisho (Đại Chánh) và Showa (Chiêu Hòa), tức là Ông Nội và Cha của Nhật Hoàng hiện nay. Ngày nay, Hoàng Cung có tổ chức những guided tours mỗi ngày nhưng phải ghi danh trước. “Đặc quyền” của tour du lịch mà tôi có nhắc tới bên trên là họ đã xin phép trước với Imperial Household Agency. Trưóc khi vào bên trong khuôn viên, mỗi ngưòi phải kê khai lý lịch với Imperial Household Agency. Bước qua Seishomon (Thanh Sở Môn) để vào bên trong “cấm thành”. Theo bảng chỉ dẫn, chúng tôi đi lần tới trước ngôi điện quang trọng nhất của Hoàng Cung. Đó là Shishinden (Tử Thần Điện), là nơi hai vị Nhật Hoàng kể trên lên ngôi. Phụ chú, chữ Tử ở đây nghĩa là màu tím chứ không có nghĩa là… “đi bán muối”. Muốn vào Shishinden phải qua Shomeimon (Thừa Minh Môn). Không biết vì lý do gì nhưng họ không cho vào tới trong sân điện nên chỉ nhìn được từ ngoài xa vào. So với Nijo-jo và Kinkaku-ji thì kiến trúc của Hoàng Cung có vẻ như ít cầu kỳ hơn. Cũng không uy nghi, đường bệ như hai nơi kia. Đi xa hơn, bên hông trái của điện này là Oike-niwa (Ngự Trì Đình), một cái hồ ở giữa một khu vườn. Có một chiếc cầu cây bắt ngang rất nên thơ. Ai được cùng cố nhân sánh bước trên cầu thì còn gì bằng… Đến đây kết thúc tour của chúng tôi. Chỉ mới khoảng hơn 12 giờ thôi nên, sau khi dùng cơm trưa xong, chúng tôi đáp xe lửa đi Nara, một thành phố nhỏ nằm cách Kyoto một giờ đồng hồ.
Shishinden nhìn qua Shomeimon, Kyoto
Oike-niwa bên trong Hoàng Cung, Kyoto
Nara-Shin (Nại Lương Thị), nằm ở phía Nam của Kyoto, đã từng là kinh đô của Nhật từ năm 710 tới năm 784. Nổi tiếng nhất ở Nara là Todai-ji (Đông Đại Tự). Đông Đại Tự được bắt đầu xây cất vào năm 728. Ngày nay, chùa nằm trong Công Viên Nara. Trong công viên này có hàng ngàn cô chú nai đi lại tự do (và cả ngoài đường cái nữa) và thường được du khách cho bánh ăn, nên rất dạn dĩ.
Nara Park, Nara-Shin
Kiến trúc danh tiếng nhất trong Đông Đại Tự là Daibutsu-den (Đại Phật Điện), một di sản văn hóa UNESCO. Đại Phật Điện là kiến trúc bằng gỗ lớn nhất thế giới và trong đó có đặt tượng Đức Đại Nhật Như Lai to nhất thế giới. Tượng Phật cao gần 15 mét và nặng khoản 500 tấn. Điện này được tái thiết lại vào năm1709 sau hai cơn hỏa hoạn. Thập phương bá tánh và các đoàn học sinh đi field trip đến viếng Đông Đại Tự rất đông. Có điểm đặc biệt là các field trips cho các học sinh trung học ở Nhật thường đến các chùa hoặc các đền Shinto (Thần Đạo). Chắc có lẽ vì ở Nhật có quá nhiều chùa chiền, đền thờ chăng?
Daibutsu-den, Nara
Tượng Đức Đại Nhật Như Lai
Trước Đại Phật Điện, Nara
Chúng tôi rời Nara, về đến Kyoto cũng đã chạng vạng, thành phố đã lên đèn. Trọn một ngày đi thăm viếng khắp nơi, qua hai thành phố “cố đô”, viếng bốn di tích lịch sử, nên mệt nhoài! Phải dưỡng sức để sáng mai còn đi dạo Kyoto tiếp, trước khi về lại Tokyo.
Còn Tiếp
Kỳ sau: Ngân Các Tự, Kyoto TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (03) - TRẦN HIẾU ĐỄTiếp theo
Chương Hai: Kyoto và Nara
Ngày thứ năm
Sáng nay, chúng tôi lấy xe lửa cao tốc shinkansen đi Kyoto (Kinh Đô). Kyoto đã từng là kinh đô của Nhật hơn 1000 năm, từ 794 đến 1868. Mặc dù Minh Trị Thiên Hoàng chọn Đông Kinh làm thủ đô năm 1868, một số người vẫn xem Kyoto là kinh đô vì vị Hoàng Đế này đã không có chiếu dụ nào về việc thiên đô.
Chúng tôi đến ga Kyoto lúc giữa trưa. Đây là nhà ga lớn thứ nhì ở Nhật, với chiều cao 15 tầng, đưọc khánh thành năm 1997. Bên trong ga có khu thương mại, khách sạn và rạp chiếu bóng. Cũng như tại các ga xe lửa ở những thành phố lớn khác, bạn sẽ không tìm được rác rưởi hay tàn thuốc dưới đất mặc dù có hàng vạn lượt người qua lại nơi đây mỗi ngày. Bí quyết của họ? Họ đều bỏ tàn thuốc vào những hộp nhỏ bỏ túi đem về nhà. Ngưòi Nhật cũng có thói quen không vứt rác ở ngoài đường hay nơi công cộng, mà đem về nhà bỏ. Được dạy từ lúc nhỏ. Dạy con từ thuở còn thơ là vậy.
Sau khi check-in vào khách sạn, chúng tôi thả bộ đến viếng Higashi Hongan-shi (Đông Bổn Nguyện Tự). Đây là ngôi chùa chính của một tông phái Phật giáo cùng tên, được thành lập năm 1602 bởi Tướng quân Tokugawa Iseyasu khi ông chia Jodo Shinshu (Tịnh Độ Chân Tông) ra làm hai phái, Đông và Tây, để làm giảm uy tín của tông phái này. Vì ngôi chùa đang đưọc tu sửa, nên chúng tôi chỉ chiêm ngưỡng được vòng ngoài mà thôi.
Goei-do mon (Ngự Ảnh Đường Môn) trước Hagashi Hongan-ji, Kyoto
Ngày thứ sáu Sáng nay, chúng tôi tham dự một tour Kyoto bằng xe bus để viếng Nijo-jo, Kinkaku-ji và Hoàng Cung. Đi tour có lợi điểm là họ chọn sẵn những nơi đặc thù của thành phố và “đặc quyền” mà tôi sẽ nói tới trong đoạn sau.
Nijo-jo (Nhị Điều Thành), một trong những Di sản Văn hóa Thế giới của UNESCO, được xây cất năm 1602. Lâu đài được dùng làm dinh thự cho các Tướng quân dòng họ Tokugawa khi họ đến Kyoto để triều kiến Thiên hoàng mặc dù Tokugawa Shogunate đặt “thủ phủ” ở Edo (nay là Tokyo). Bước qua karamon (Đường môn), bạn sẽ thấy Điện Ninomaru, gồm năm biệt thự nối liền với nhau bởi hành lang. Điểm đặc biệt là để đề phòng quân thích khách, sàn gỗ ở hành lang được xây đặc biệt như một hệ thống báo động. Khi ai bước lên, sàn sẽ phát ra tiếng động như tiếng chim kêu. Do vậy, nó có tên là “nightingale floors.” Các phòng được chạm trổ hoa văn công phu và tường được trang trí bằng các bức tranh của các họa sĩ danh tiếng đương thời. Rất tiếc là không được phép chụp hình…
Karamon trước Nijo-jo, Kyoto
Chung quanh lâu đài là hai vòng thành cao. Lát nữa đây, chúng tôi sẽ đến thăm Hoàng Cung, nơi mà chung quanh không có vòng thành nào cả. Nói thế để các bạn hiểu rằng, Thiên Hoàng được thần dân sùng bái nên không sợ bị ám hại. Còn Tướng quân thì ngược lại…
Trong khuôn viên của Nijo-jo có nhiều thủy viên (water garden) rất đẹp. Đi guided tour kiểu này có cái hay là thăm được nhiều nơi đặc sắc. Nhưng lại không có đủ thì giờ để chiêm ngưỡng cái hay, cái đẹp cho được cho thấu đáo. Người hướng dẫn lúc nào cũng hối xem cho nhanh để còn kịp giờ đi coi… Kim Các Tự.
Điện Ninomaru, Nijo-jo, Kyoto
Kinkaku-ji (Kim Các Tự) nằm về hướng Tây Bắc của Nijo-jo. Đúng ra phải gọi là Rokuon-ji (Lộc Uyển Tự). Kim Các chỉ là một những ngôi đền danh tiếng trong Lộc Uyển Tự. Nhưng có lẽ đó là nơi được thăm viếng nhiều nhất ở đây nên mới người ta mới gọi là Kim Các Tự. Được xây cất vào năm 1397 như biệt thự dành cho Tướng Quân Ashikaga Yoshimitsu để dưỡng hưu. Sau đó, biệt thự này được biến thành chùa Thiền môn. Kim Các được giác vàng óng ánh, phản chiếu mặt hồ thật đẹp. Tưởng rằng đây là một kiến trúc cổ, nhưng thật ra nó chỉ mới được tái thiết năm 1955 sau khi một nhà sư, trong một cơn khủng hoảng tinh thần, đã thiêu rụi năm 1950. Phong cảnh nơi đây thật tĩnh mịch, trang nghiêm. Vào đây, tôi cảm thấy như muốn gột bỏ đi tất cả bụi hồng trần. Tôi muốn hưởng cái không khí vô ưu ở đây. Chưa muốn trở lại với cõi đời ô trọc… Nhưng mưu sự tại nhân, mà thành sự tại thiên nên tôi lại bị lôi về với thực tại khi hướng dẫn viên lại hối chúng tôi trở ra xe để đi đến địa danh kế tiếp. Tiếc hùi hụi!
Nơi kế tiếp mà chúng tôi được đưa đến viếng là một thái cực với Kim Các Tự. Nơi đây tập trung “quyền lực” của Nhật Bản. Tôi mở ngoặc kép ở đây vì thực quyền tối thượng ở Nhật trước năm 1868 nằm trong tay các Tướng quân ngự nơi Nijo-jo khi họ đến Kyoto để “diện kiến” Thiên Hoàng. Tôi muốn nói tới là Hoàng Cung nằm cách Nijo-jo không xa. Các bạn thấy Nhật Hoàng khi xưa (mà cho tới nay) chỉ có tiếng mà không có miếng, mặc dù là, trên nguyên tắc, có quyền lực tối thượng. Hữu danh vô thực!
Kinkaku-ji và Kyoko-chi (Kính Hồ Trì), Kyoto
Kinkaku-ji, Kyoto
Kinkaku-ji, Kyoto
(Còn tiếp) Kỳ sau: Hoàng Cung Kyoto TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (02) - TRẦN HIẾU ĐỄTiếp theo
Ngày thứ nhì Thức giấc lúc năm giờ rưỡi sáng. Không dỗ giấc lại được. Tại jetlag? Hôm nay, tôi được đưa đi thăm một vài nơi ở Tokyo như Senso-ji (Thiển Thảo Tự) và khu thương mại Ginza. Thiển Thảo Tự là một trong những ngôi chùa quan trọng và là ngôi chùa cổ nhất tại Tokyo. Chùa được xây cất vào năm 645. Từ đường phố vào chùa phải qua hai cổng lớn. Cổng ngoài Kaminari-mon (Lôi Môn) cao 11,7m, rộng 11,4m. Cổng trong Hozomon (Bảo Tàng Môn), cao 22,7m, rộng 21m. Treo dưới hai cổng là hai chiếc lồng đèn đỏ khổng lồ.
Hai bên đường vào chùa tấp nập các quầy hàng bán đồ lưu niệm như các bạn thấy trong hình bên trên.
Những bạn nào thích shopping hàng hóa của các nhà chế tạo danh tiếng và có hầu bao rủng rỉnh thì nên viếng qua khu Ginza. Đây là một trong những khu thương mại sang trọng và nổi tiếng trên thế giới (như Fifth Avenue ở New York City hay Champs Elysée ở Paris). Vì không có nhiều xu, nên tôi chỉ đi ngắm các mặt hàng thôi chứ không dám rớ vì sợ… phỏng tay! Hàng trưng bày rất lịch sự và có mỹ thuật nhưng giá cả thì ở tận trên thượng tầng khí quyển! Đi xem cho biết chứ cũng chẳng lấy gì làm thích thú cho lắm.
Ngày thứ ba
Sáng nay, tôi và gia đình đáp xe lửa định đi Hakone. Hakone nằm trong Fuji-Hakone-Izu National Park. Từ đây, có thể đi trên Hồ Ashi, và nếu trời quang đãng, có thể thấy Phú Sĩ Sơn. Tuy nhiên, hôm nay, trời u ám. Vả lại, xuất hành hơi trễ, thành ra không đủ thì giờ để tới Hakone, Do đó, đành đổi chương trình (vào giờ chót) để đi Gora, một thị trấn nhỏ, dưới chân Soun-zan (Tảo Vân Sơn). Phong cảnh dọc đường thật đẹp. Gora Park là một công viên kiểu Pháp, với nhiều loại hoa. Ở đây cũng có nhà kiếng trồng các loại cây cỏ nhiệt đới.
Gora Park, Kanagawa Prefecture
Gora Park, Kanagawa Prefecture
Sau khi thăm Gora Park, chúng tôi đáp xe lửa tới bán đảo Izu (Y Đậu) là nơi có nhà nghỉ mát của người bà con. Bán đảo Izu nằm về hướng Tây Nam của Đông Kinh, là nơi du lịch với nhiều suối nước nóng (onsen) ở nhiều địa điểm trong vùng. Theo dự tính thì hôm sau, chúng tôi sẽ nghỉ xả hơi để lấy sức đi Kyoto ngày kế tiếp.
(Còn tiếp) TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (01) - TRẦN HIẾU ĐỄLời nói đầu
Trước tiên, xin được thanh minh đôi lời. Từ thuở đi học, chẳng bao giờ tôi qua được điểm trung bình trong môn Quốc Văn. Cho nên viết một bài văn xuôi cho suông sẻ là chuyện tôi ít dám nghĩ tới. Các bạn đọc cho vui. Nếu không xuôi tai, xin đừng chấp nhứt. Đa tạ.
Dốt văn từ thuở còn thơ,
Còn thi, còn vận, ngu ngơ tới giờ. Chương Một: Đông Kinh và vùng lân cận
Một chiều cuối xuân, chuyến máy bay của hãng ANA cất cánh rời phi trường quốc tế San Francisco. Cuối cùng rồi tôi cũng làm được một chuyến Tây Du. Một chuyến đi mà tôi đã dự tính từ tám năm qua. Dự tính của năm nay cũng không suông sẻ lắm nên mãi tới gần ngày mà vẫn chưa chắc chắn là sẽ đi được. Trước hết, chuyện suy thoái kinh tế toàn cầu làm mọi người, kể cả tôi, do dự, không biết có nên làm một chuyến du lịch xa. Kế đến, hai tuần trước ngày đi, WHO nâng mức báo động toàn cầu lên cấp 6 vì đại dịch cúm heo. Rủi như tôi bị nóng sốt vì cảm mạo thông thường, mà vì dịch cúm heo, lại bị cách ly một tuần ở ngoại quốc thì …”oan Thị Mầu” quá! Tuy nhiên, trong cái rủi lại có cái may. Vì những lý do trên mà giá vé lại rẻ. Thôi thì đánh liều, nhứt chín nhì bù vậy!
Chuyến bay không có gì đáng nói ngoài cung cách phục vụ chu đáo của các tiếp viên hàng không Nhật. Không tài nào ngủ được trên các chuyến bay đường dài…
Ngày đầu tiên
Mười một giờ đồng hồ sau, phi cơ hạ cánh xuống phi trường quốc tế Narita, Nhật Bản. Ra khỏi phi cơ, cảm thấy nóng và oi bức. Giống thời tiết bên nhà! Bên trong terminal, mặc dù nhiều hành khách và nhân viên, nhưng vẫn yên lặng và rất sạch sẽ. Ngay cả overhead public announcement cũng không “oang oang”. Không gặp khó khăn nào khi qua trạm di trú và quan thuế. Phải nhìn nhận rằng cung cách phục vụ chuyên nghiệp và sự lễ độ của các nhân viên Nhật, công cũng như tư, làm cho khách vãng lai cảm thấy welcomed.
Thủ tục giấy tờ xong, tôi đi tìm quầy Japan Railway (JR) để đổi Japan Rail Pass Voucher. Xin mạn phép được mở ngoặc ở đây, nếu không có ý định tham gia các tours du lịch, các bạn nên mua Japan Rail Pass để có thể tùy nghi tung hoành ngang dọc khắp nước Nhật vì vé xe lửa mua tại đây rất mắc. JR Pass có hiệu lực bảy ngày giá khoảng USD 300 (cho người lớn). Trong khi đó, một vé khứ hồi Tokyo-Kyoto cũng tròm trèm giá đó.
Lấy chuyến xe Narita Express (xài JR Pass) từ phi trường về Đông Kinh, chỉ một tiếng sau là tới trạm Shinagawa ở Tây Nam thủ đô. Trong nhà ga, hàng ngàn người lũ lượt ngược xuôi khắp mọi nơi. Lần đầu tiên, phải đối diện với một “biển người” như vậy, tôi khựng lại, chưa nghĩ ra phương cách để đi tới. Bỗng nhớ đến chuyện “Việt kiều” không dám băng qua đường, lần đầu tiên về Sài Gòn. Chỉ còn cách duy nhất là nhắm hướng muốn đi và tiến tới. Tức thì dòng người tự động dạt ra, như Moses vượt qua Hồng Hải thuở nào…
Đêm đầu tiên tại Nhật, tôi được người bà con dẫn đi dạo phố và ăn sushi. Mặc dù đã gần 23 giờ đêm nhưng ngoài đường phố cũng như tại các tụ điểm giải trí, các quán ăn đều đông nghẹt. Được giải thích là người Nhật, ở các thành phố lớn, có thói quen ăn nhậu, vui chơi cùng bạn bè, đồng nghiệp sau giờ tan sở. Dường như họ phải sống trong khuôn khổ gò bó, phải cư xử với nhau tại trường sở theo đúng cung cách mà xã hội Nhật đã đặt ra, nên khi được thư giãn thì họ “bung” và “quậy tới bến” tại các nơi giải trí. Đến cuối ngày, họ có thể “sống thật” cho đến khi đáp các chuyến tàu đêm cuối cùng để về nhà…
Các bạn hỏi, “Còn món sushi ở Nhật thế nào?” Số dách! Cá tươi đến độ không nếm thấy vị tanh. Nếu đến những tiệm hạng trung thì giá cả cũng xấp xỉ các tiệm sushi ở Cali, nhưng phẩm chất lại ngon hơn nhiều. Thiên đường cho những ai thích sushi!
(Còn tiếp) LÁ THƯ THẦY NGUYỄN VĂN HẢI: SÁM HỐI VÀ THƯƠNG YÊU, THA THỨCác em: Nguyễn Thế Đức
Lê Quốc Hưng Trần Hiếu Đễ Trần Nguyên Hùng thân mến, Trong bóng đêm, thầy mò mẫm tìm hộp diêm dùng dở (chắc cũng đến trên dưới một năm rồi). Trong hộp chỉ còn đúng một que. Thật thận trọng, thầy đánh diêm lên. Bóng tối bị xua đi ngay bởi đốm lửa vừa rực sáng!
Vẫn trong bóng tối ấy thầy thấy hiện lên rất rõ một khuôn mặt còn rất trẻ, đầu hơi cúi xống, tỏ dấu ăn năn, thật tâm sám hối, chứ không nghênh ngang, đầy giận dữ như trước đây của một.. nghịch đồ! Que diêm tiếp tục cháy... cháy... cho đến cuối. Trước khi tắt, đốm lửa kịp bùng lên lần cuối. Và vẫn trong bóng tối ấy, thầy thấy hiện lên một khuôn mặt khắc khổ hơn nhưng lại hết sức hiền từ, khoan hòa, và lại còn khẽ mĩm cười lộ đầy vẻ thương yêu tha thứ... Các em rất thân thương của thầy ơi,
Trăm năm là kiếp con người, nhưng thử hỏi trên đời này mấy ai đã sống đến trăm năm? Thế tại sao cứ mãi làm khổ nhau mà không đối xử với nhau bằng TÌNH THƯƠNG và THA THỨ?
Thầy (NGUYỄN VĂN) HẢI, 20090903 LÁ THƯ KÍNH GỞI THẦY CÔ: QUE DIÊM CUỐI CÙNG... Trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy...
Quý Thầy Cô của Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn,
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em, Xin Quý Thầy Cô cho phép chúng em được bắt đầu lá thư này bằng một câu chuyện nho nhỏ nhưng đã buộc chúng em phải suy nghĩ rất nhiều.
Lớp chúng em có một anh Trưởng Lớp rất hiền lành và tốt bụng. Năm 2006, khi được các bạn bên ngoài nhờ giúp tìm kiếm Thầy Tổng Giám Thị Võ Văn Bê hiện cư ngụ tại Chợ Gạo, Tiền Giang, anh ấy đã không ngần ngại nhận lời bất chấp đường xá cách trở, bất chấp đi lại tốn kém và bất chấp hoàn cảnh kinh tế gia đình rất eo hẹp. Ra đi từ tờ mờ sáng để còn về kịp trong ngày, không có lấy một con số, hay tên một con hẻm trong tay, anh ấy vẫn tìm tới được nhà của người Thầy cũ. Nhưng hôm ấy anh không may mắn: Thầy đã đi thăm rẫy từ sáng và sẽ không trở về để anh kịp gặp. Anh ngồi chơi với Cô một chút rồi cáo từ ra về không quên gởi lại một ít hiện kim biếu Thầy Cô làm quà. Chút hiện kim ấy, với chúng ta ở ngoài, chẳng đáng là bao, nhưng với gia đình anh bạn chúng em là cả một ngân khoản to lớn.
Rồi lần thăm viếng sau anh bạn và các bạn cùng lớp đã may mắn hơn, gặp được Thầy cũ để hàn huyên, để tâm sự và để kể cho nhau nghe những chuyện ngày xưa đã chẳng phai mờ vì năm tháng hay vì không gian cách trở. Thầy Bê vui mừng xen lẫn với bối rối vì Thầy chẳng nhớ được lấy một người ngày xưa là đứa nào, con của ai... Thầy cố đào xới trong tiềm thức nhưng sao hình ảnh thời ấy lu mờ quá, xa vời quá, mờ xa như những ước mơ của tuổi thanh xuân đã chẳng trở nên hiện thực... Những bức hình chụp Thầy Bê hôm ấy được gởi ra ngoài đã làm cho rất nhiều người xúc động.
Có người viết thư kể lại đã phải để cho những dòng nước mắt dâng trào, không ngăn lại được!
Cũng anh Trưởng Lớp này, trong một giai đoạn rất khó khăn, đã phải đem cầm những món đồ cuối cùng trong gia đình để có tiền chi tiêu qua ngày. Đem đến tiệm, người tiếp anh hôm đó, cũng là chủ tiệm, là một người Thầy khác dạy Quốc Văn ngày trước. Thầy nhận ra anh ngay vì sau bao nhiêu năm không gặp, vẫn giọng nói ồ ề, chậm rãi đó, vẫn dáng đi nhẹ nhàng, hiền hậu đó, người Thầy xưa, vốn là Giáo Sư Hướng Dẫn của lớp chúng em, làm sao quên được?
Trời ơi! Mày đó hả? Người Thầy thốt lên.
Hai Thầy trò gặp nhau trong hoàn cảnh như thế, vui sao kể xiết, nhưng có một cái gì đó xót xa, một cái gì đó nghẹn ngào chập chờn, ẩn hiện...
Một câu chuyện khác, chúng em xin kể về một nhà truyền giáo người Canada đã sang Việt Nam từ lúc tuổi đời còn thanh xuân, đã sống đời tận hiến để mang tình thương đến cho những kẻ khốn cùng: Cha Michel Laliberté, còn có tên Việt Nam là Hoàng.
Cha sinh năm 1915, sang Việt Nam năm 1938 khi còn đang là một chủng sinh dòng Chúa Cứu Thế. Chịu chức linh mục năm 1943, Cha Hoàng đã gần như sẽ chẳng còn bao giờ quay lại quê hương xứ Québec nếu Cha không bị trục xuất năm 1976, sau ba mươi tám năm tận tụy từ Bắc vô Nam dấn thân thi hành tác vụ một sứ giả của tình thương. Trong những năm ấy, Cha lập bệnh viện chăm sóc kẻ bệnh tật, Cha mở trường giúp các trẻ em nghèo có phương tiện theo đuổi việc học, không biết mỏi mệt.
Cha Hoàng có một cô học trò bé nhỏ mà Cha rất mực yêu thương như con của Cha. Người học trò ấy đã từng theo Cha và giúp Cha dạy học ở Thái Hà Ấp. Địa danh Thái Hà này, nếu như ngày xưa được xem là cái nôi của dòng Chúa Cứu Thế Thừa Sai, của yêu thương và của chia sẻ thì ngày nay, Thái Hà, cùng với tòa Khâm Sứ cũ, lại trở nên trung tâm điểm nơi xảy ra những bất công, những bắt bớ, những đàn áp. Cùng một chốn ngày trước, xưa vẳng tiếng trẻ thơ ê a, nghêu ngao những câu ca dao đơn sơ, những vần thơ thắm thiết, nay nhường chỗ cho những tiếng thét la, quát tháo của những kẻ đánh mất tình người, đánh mất lương tri, đánh mất nhân bản. Nhìn thấy trước được hiểm họa này, Cha Hoàng đưa toàn bộ ban giảng huấn của Cha và phần lớn các em học sinh cùng với gia đình của họ, hòa nhập với dòng hơn một triệu người lià bỏ ruộng vườn, khoảnh đất, nương khoai xuôi vào miền Nam tìm sự sống và tự do.
Người học trò bé nhỏ xưa là Mẹ của một người trong chúng em. Định cư tại Montréal, QC, Bà đã liên lạc lại được với Cha Hoàng ở thành phố Québec và khi còn khoẻ mạnh, Bà cùng gia đình vẫn thường hay lên thăm Cha. Cha Hoàng sống một đời sống khó nghèo, đơn sơ cho đến khi mãn phần. Ai cho Cha ít tiền hôm trước là y như ngày hôm sau, Cha gởi hết về Việt Nam cho những gia đình Cha quen biết vẫn còn ở trong nước và đang sống trong tình trạng khó khăn. Cha chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân của mình, thậm chí có người trong chúng em thấy Cha bối rối khi bị phát hiện mang giày một chiếc có xỏ giây, một chiếc không; hay như lắm lúc Cha mang đôi vớ với hai chiếc khác màu.
Cuộc sống hơn chín mươi hai năm dài của Cha Hoàng Michel Laliberté được ghi ấn bằng những dấu chỉ của tình yêu và lòng thương xót, rất mực khoan nhân và rất đáng gọi là hy hữu. Hy hữu như cuộc đời của một người đã tự nguyện từ bỏ đời sống vật chất no đầy, dấn thân tới một miền đất xa lạ, khác biệt từ giọng nói, tiếng cười cho đến truyền thống, phong tục, thói quen. Hy hữu như những ngày, tháng cuối cuộc đời, hy hữu như những giờ phút Cha Hoàng vĩnh biệt cuộc sống.
Mùa hè năm 2007, Cha Hoàng lúc ấy đã ngoài chín mươi hai tuổi, nhờ người quen đưa Cha xuống Montréal thăm người học trò cũ. Cha muốn thực hiện cuộc viếng thăm này vì Cha biết đấy sẽ là lần sau cùng.
Cha đi thăm con lần này rồi chuẩn bị về với Chúa đây! Cha nói bằng tiếng Việt rất sành sõi.
Người học trò, lúc ấy đã gần tám mươi, nhớ mãi câu nói ấy ở trong lòng. Cho đến cuối tháng 10, năm 2007, trời vào thu đã da diết lạnh lẽo, quá nửa khuya, Bà chợt nhận được một cú điện thoại từ Québec, QC. Cha Hoàng gọi, hỏi thăm sức khoẻ của Bà và của cả gia đình. Cha Hoàng nói chuyện huyên thuyên một hồi những chuyện ngày xưa, những chuyện ngày nay. Rồi Cha chúc lành cho Bà trước khi cúp máy. Chứ chẳng có chuyện gì khẩn cấp đến nỗi Cha phải gọi giữa đêm hôm khuya khoắt, một điều Cha chưa bao giờ làm cả.
Như thể không có chuyện gì quan trọng dù Cha biết rất rõ có một chuyện lớn sẽ xảy ra và đã xảy ra: vài tiếng đồng hồ sau đó Cha trút hơi thở và mãn phần. Cú phone cuối cùng ấy Cha Hoàng gọi từ giường bệnh trong lúc Cha đang bị cơn sốt hành hạ vì vết mổ bị nhiễm trùng. Cha đã chẳng thố lộ cho ai biết rằng Cha đang nằm nhà thương từ hai ngày trước, rằng Cha đang đau đớn, và rằng Cha đang trong cơn thập tử nhất sinh.
Trong cơn thập tử nhất sinh của một đời người, Cha vẫn nhớ tới người học trò cũ của gần sáu mươi năm về trước.
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
Tình nghiã Thầy trò là một thánh vật được trao ban một cách nhưng không.
Gọi là thánh vật vì tình yêu thương ấy thánh thiện và bất diệt. Bên cạnh hằng trăm, hằng ngàn câu chuyện nêu cao tính cách cao quý của tình nghiã Thầy trò, chúng em muốn góp thêm hai câu chuyện bình thường ở trên, bình thường như những mẩu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, để kính xin được thưa rằng chúng em vẫn hằng nâng niu, vẫn hằng ấp ủ những giá trị thiêng liêng của mối liên hệ Thầy trò mà chúng em được thừa hưởng không điều kiện từ lúc còn thảnh thơi, biếng học, ham chơi cho đến ngày nay, với gánh nặng bản thân, gia đình, đất nước trên vai.
Không may mắn thay, từ những mâu thuẫn trước ngày 01 tháng 08 năm 2009 vừa qua, chúng em lại một lần nữa phải nhìn nhận rằng trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy. Nhưng họ có bao nhiêu hay chỉ đếm được trên đầu ngón của một bàn tay; và họ làm được gì hay chỉ khua nên những âm thanh vang dội nghe lạch tạch như những viên pháo lép?
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
Trong cuộc sống, có những ước mơ đã trở thành hiện thực bên cạnh những giấc mộng tàn phai bị đẩy chìm vào quên lãng.
Cũng vậy, trong một đàn con, tàn nhẫn thay, chúng ta không thể chối bỏ sự hiện hữu của những đứa ngỗ nghịch, cãi lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ phiền lòng khôn nguôi. Nhưng may mắn thay, cũng còn có những đứa hiếu thảo, vâng lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ nở mặt hãnh diện. Lá thư này được gởi đến Quý Thầy Cô trong sự muộn màng, khi những đổ vỡ, mất mát đã xảy ra. Nhưng có một cái gì đó thôi thúc chúng em, như đã từng thôi thúc cô bé bán diêm phải đánh lên ánh lửa cỏn con dù biết đó là que diêm cuối. Giữa tối tăm muôn trùng, từ nguồn sáng nhỏ nhoi của tâm hồn ấy, chúng em vẫn còn nhìn thấy hình ảnh của Quý Thầy Cô là những người chúng em hằng kính trọng và yêu thương; giữa thét la kêu gào, trong một giây phút lắng đọng, chúng em vẫn còn nghe thấy những tiếng gọi, những lời khuyên của Quý Thầy Cô, dịu êm như những kỷ niệm một thời chúng em còn cắp sách đến trường.
Vâng, cho dù đó là que diêm cuối cùng, cho dù đó là một lần sau chót, chúng em vẫn phải đánh lên. Phải đánh lên một nguồn sáng nhỏ nhoi cho tâm tư được lắng đọng một giây, một phút.
Kính chúc Quý Thầy Cô vạn sự bình an.
Lê Quốc Hưng
Nguyễn Thế Đức Trần Hiếu Đễ Trần Nguyên Hùng LỜI CHÚC LÚC GIAO MÙA - VÂN ĐÀI (蕓臺)Đêm ba mươi, trong giấc mơ đơn sơ vẫn hằng ấp ủ,
Vân Đài (蕓臺), 20090125
CHÚC TẾT NĂM SỬU - SONG LONG (双竜)CHÚC TẾT NĂM SỬU
Hôm nay gần đến năm trâu,
Nâng ly cung chúc bớt sầu bớt lo. Chúc cho thân ấm khỏi co, Liệu cơm gắp mắm, bụng no mỗi ngày. Chúc cho còn “dốp” để cày, Kinh tế bầy hầy, sợ mất ốc gia. Chúc luôn Cô Bác bên nhà, Năm nay bớt khổ, khỏi la thấu trời. Chúc em thơ giữa chợ đời, Biết phân phải quấy, biết người giả chơn. Chúc người trong cảnh neo đơn, Sớm tìm tri kỷ, cho đờn đủ dây. Chúc người hạnh phúc tầm tay, Tâm thân an lạc, Tết này bình yên. Song Long (双竜), 20090125 MAI VÀNG - ANH ĐÀI (英臺),MAI VÀNG
Nâng niu, ôm ấp cành mai,
Cánh vàng, nhụy thắm, nhớ ngày xa xưa. Ngày xưa, tình đậm sâu chưa? Mượt mà, hoa, hạnh phúc vừa tầm tay. Vậy mà họa gửi tai bay, Sa chân một bước, canh bài bạc thay! Ngày nay, lang bạt xứ Đài, Dập vùi xứ lạnh, trần ai nỗi lòng. Mong sao chóng dứt cơn giông, Mai vàng rực rỡ, hương nồng quê ta. Viết từ vùng Tây Bắc Hoa Kỳ Anh Đài (英臺), 20090115 TỬ VI TRỌN ĐỜI QUA TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM - THẦY BÚA RÒIGIÁO ĐẦU
Năm nay, năm Sửu, chớ rầu, Chồng cày, vợ cấy, con trâu xuống đồng. Cô Ba muốn kiếm tấm chồng, Tránh người thất đức, cuồng ngông, bất tài. Cô rằng "Biết kiếm được ai?" Nhờ Thầy xủ quẻ có ngay khó gì. Bụng đầy Kinh Dịch, Kinh Thi, Càn Khôn Thầy nắm, Tử Vi Thầy làu. Ca dao, điển cố, thao thao, Vè trên, vế dưới, Thầy "xào" với sao. Quyện thi với bốc, quả cao! Tử Vi Trọn Gói giúp bao nhiêu người. Đọc xong, thấu hiểu bằng mười, Vui ba ngày Tết, cùng cười đầu Xuân. Song Long (双竜), 20081228
THẦY BÓI
Thầy Búa Ròi ơi, Thầy Bói Rùa! Phục Hy, dịch, toán, dễ nào thua. Vô Cực, Lưỡng Nghi, rao giữa chợ, Âm Dương, Tứ Tượng, bói quanh chùa. Thi vận Thầy lồng vô Bát Quái, Tử vi lá số vạn người mua. Xủ quẻ đầu năm tiêu vận rủi, Lỡ thành triệu phú đỡ te tua! Song Long (双竜), 20090116
Thầy bói có nhiều loại.
· Thầy bói nó đâu đúng đó là loại thầy bói giỏi khôn cùng, khỏi nói ai cũng biết.
· Thầy bói nói đâu sai đó cũng là loại thầy bói xuất chúng vì chỉ cần nghe những gì thầy nói rồi suy ngược lại thì thiên cơ sẽ khả lậu ngay!
· Thầy bói vừa đúng vừa sai là loại thầy bói lèm bèm, chẳng đáng tin cậy!
Tôi là Thầy Búa Ròi, và tôi thuộc loại thầy bói thứ nhất. Tôi đoán chưa bao giờ sai và khoa bói toán do tôi tình cờ khám phá trong một cơn bệnh ngặt nghèo, thập tử nhất sinh đã được người đời truyền tụng là xuất phát từ cõi lòng chân thật và bình dị của dân gian, qua nhận thức và cảm xúc của con tim rung động với ngoại cảnh. Khoa bói toán ấy có căn bản dựa trên kho tàng ca dao, tục ngữ vốn là một gia tài phong phú của văn hóa Việt Nam.
Năm nay Thầy Búa Ròi tôi khai mở từ tâm, ra tay cứu độ nhân sinh.
Vậy nên mới có trang Tử Vi Trọn Đời này.
Xin kính mời Quý Thí Chủ thập phương chiêm niệm. TỬ VI TRỌN ĐỜI QUA TỤC NGỮ, CA DAO VIỆT NAM - THẦY BÚA RÒI
Thơ - CÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC IVCÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC IV
CÁC BÀI ĐÃ ĐĂNGLÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - CÁI CHẾT
Cuộc sống ngập tràn những thử thách, khổ đau, vui ít, buồn nhiều.
Sinh, lão, bệnh, tử, ai là người không phải gánh chịu, nhất là cái chết, một kinh nghiệm buồn thảm, thê lương, đôi khi lại còn vô lý đối với tất cả những ai chưa một lần trải qua.
LÁ THƯ TỪ VIỆT NAM: LẦN CUỐI ĐẾN VIẾNG THĂM CÔ NGUYỄN VĂN HẢI
Bạn hữu Lê Quý Vân Đài thân mến,
Trưa nay, Đ. cùng C. T. và R. T. lên Bình Dương kính viếng linh cữu Cô Nguyễn Văn Hải.
AI TÍN - CÔ NGUYỄN VĂN HẢI KHÔNG CÒN NỮA
Trang Vân Đài Loại Ngữ, cùng với các Cựu Giáo Sư và Học Sinh Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn tại hải ngoại cũng như tại quê nhà rất đau buồn báo tin
Bà Nguyễn Văn Hải
Nhũ danh Nguyễn Tiến Quỳnh
Pháp danh Quỳnh Giao
Sinh năm 1933 tại Hà Nội
đã tạ thế lúc 11:40 tối ngày mùng 04 tháng 10 năm 2008
Huởng thọ 75 tuổi
LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - TẠ TỪ
Có nhiều cuộc tình tan vỡ chỉ vì một lần lỗi hẹn.
Để rồi mãi mãi ngàn sau, có đi từ Âu sang Á, từ Đông sang Tây, qua Paris, London, New York, Boston hay Sydney, Melbourne, Tokyo, Seoul... cũng chẳng tìm được cơ hội một lần nữa. LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - MỘT LẦN RA ĐI
Một đoàn tàu trong sân ga chuẩn bị lăn bánh.
Giữa những tiếng nói, tiếng khóc, tiếng cười là những tâm trạng khác biệt. Tất cả tề tụ về đây, trí thức có, dân dã có, lịch lãm có, phong trần có, trà trộn vào nhau trong một khung cảnh đa dạng. THƯ GỬI CÁC EM HỌC SINH THÂN YÊU CỦA TÔI - THẦY NGUYỄN VĂN HẢI
Bình Dương, ngày 26/6/2008
Các em học sinh thân yêu của Thầy!
Chiều 23/6/2008, tiễn vợ chồng Đôn về xong, Thầy mang thư và ảnh của các em gửi vào trong cho Cô xem. Xin đọc tiếp... LÁ THƯ NGUYỄN THẾ ĐỨC: KHÔNG GIAN CÁCH TRỞ, THỜI GIAN QUA MAU
Hôm trước, trong lá thư thay mặt các Bạn thăm hỏi, ủi an Thầy Cô lúc cơn hoạn nạn, tôi có viết rằng:
Một bản nhạc thật xưa cũ gợi nhớ lại những tháng ngày chúng con sẽ mãi mãi nâng niu.
Có nhiều Bạn đã gởi mail cho trang Vân Đài Loại Ngữ thắc mắc hỏi rằng bản nhạc ấy là bài gì, lời hát ra sao để có thể làm chúng ta nhớ lại những kỷ niệm êm đềm, ngọt ngào. LÁ THƯ TRẦN HIẾU ĐỄ - ĐÔI LỜI CẢM TẠ
Các Bạn thân mến,Thấm thoát đã hơn hai tuần từ sau ngày tin tức về hoàn cảnh của Thầy Cô Nguyễn Văn Hải được phổ biến.
LÁ THƯ NGUYỄN THẾ ĐỨC: VÀI HÀNG KÍNH THĂM THẦY CÔ NGUYỄN VĂN HẢI
Dòng thời gian vẫn lẳng lặng êm trôi,
Đẩy kỷ niệm một thời vào quên lãng. Để một hôm có nắng chiếu qua sân Ta lại nhớ, lại nâng niu ấp ủ... Vân Đài, Kỷ niệm còn mãi để nâng niu.
Một buổi tối thật yên bình, lắng đọng.
Một bản nhạc thật xưa cũ gợi nhớ lại những tháng ngày chúng con sẽ mãi mãi nâng niu.
LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG: THẦY CÔ NGUYỄN VĂN HẢI
Câu chuyện mà tôi sắp kể là một câu chuyện buồn.
Mặc đầu nó đuợc bắt đầu bằng một giấc mơ rất đơn sơ, giản dị với hy vọng cái kết cuộc cũng sẽ rất bình thường, không sôi nổi. Nhưng thực tế nhiều khi không phải như ý mình mong muốn. LÁ THƯ TRẦN HIẾU ĐỄ - THẦY CÔ NGUYỄN VĂN HẢI
“Phước bất trùng lai, họa vô đơn chí!” Mới đưa Thầy Phê đây, giờ tin buồn lại đến nữa.
NGỠ NGÀNG LẠI MỘT MÙA XUÂN - LÊ QUỐC HƯNG (黎國興)
Cánh én lượn Xuân nay về nữa
Mai nở vàng Tết nữa sao đây CHÚC TẾT THỜI ĐẠI - SONG LONG (双竜)
Sáng nay, mùng một Tết Ta,
Sẵn đây xin chúc nhà nhà yên vui VÂN ĐÀI DIỄN NGHIÃ (蕓臺演義) PHẦN THỨ NĂM - BÙI KHƯƠNG BỘI HOÀN VÀ BÀI THƠ CHIỀU HẠ EM RA PHỐ - VÂN ĐÀI
Tuổi học trò bay mất
Lúc còn ở nhà thì mùa hạ, đối với tôi, đồng nghiã với những cơn mưa tầm tã.
Mưa như trút nước, thấm ướt cả một quãng đời thơ ấu và lưu lại những dấu ấn cho đến ngày hôm nay. LÁ THƯ VÂN ĐÀI: HỘI CHỨNG TRONG LUỒNG - VÂN ĐÀI (蕓臺)
HỘI CHỨNG TRONG LUỒNG
tiếp theo LÁ THƯ VÂN ĐÀI: CÁI GÌ NGƯỜI TA LÀM HỎNG THÌ MÌNH CHỮA LẠI LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - KỶ NIỆM (紀念)
Kiếp nhân sinh nhỏ bé, Con người chẳng là chi Một mai khi từ biệt Mang theo được những gì? Văn hóa ngoài luồng
Chẳng hiểu ai chế ra cái chữ ngoài luồng, đặc biệt là chữ luồng ở đây nghe... tầm bậy hết sức! SỚ TÁO… SỌN – TƯ MÃ TAM QUÁI THẦN TÁO (司馬三怪神竈)
Muôn tâu Thượng Đế,
Thần đây Táo... Sọn,
Cúi đầu ngả nón
Kính chúc Ngọc Hoàng
Sống lâu vạn tuế!
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU CÙNG GIA ĐÌNH THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ
Một chuyến đi đã được chấp nhận, chờ đợi từ bao lâu vẫn có thể đến bất ngờ. Sự bất ngờ dành cho những người ở lại. Sự ngỡ ngàng xâm chiếm tất cả mọi người chúng tôi. Kiếp nhân sinh mỏng manh như hạt sương ban mai, một chút nắng chiếu qua cũng đủ làm tan biến. Muôn ngàn khốn khó vây quanh càng làm cho những ngày tháng tạm dung của cuộc sống con người thêm ngắn ngủi. Xin đọc tiếp...
AI TÍN - THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ KHÔNG CÒN NỮA.
Tôi treo chữ “tâm” là để tự mình cảnh giới đừng phạm nhiều sai lầm trong cuộc đời. “Tất nhiên là tôi cũng có sai phạm, nhưng mình nên cố giữ những sai phạm đó càng ít, càng nhỏ thì càng tốt…, coi đó như một ngọn lửa thiêng soi sáng cho mình trong những hoàn cảnh khó xử, chứ quả thực không dám nhận mình là đã xứng đáng với chữ “tâm” như người xưa dạy... Đó là những lời cuối cùng Thầy Đoàn Văn Phê nhắn nhủ với các môn sinh qua bức thư viết tay Thầy gởi ra hải ngoại ngày 27 tháng 02 năm 2007. Thầy Đoàn Văn Phê không còn nữa. Xin đọc tiếp...
CHO TÔI MỘT LẦN THÔI - ANH ĐÀI (英臺)
Mỗi người trong chúng ta, khi đến tuổi nào đó, không ít thì nhiều, sống bằng kỷ niệm. Ai trong chúng ta đã không khỏi bồi hồi khi nhớ đến những góc phố, những con đường đã cùng cố nhân sánh vai? Ai có thể quên được miếng xoài chua, ly chè ngọt mà chúng ta đã ăn vặt, thuở học trò. Rồi những lời giảng bài vang vang, những mối tình vụn vặt được ghi vội trên mặt bàn - những kỷ niệm của một quãng đời ngây thơ, đẹp đẽ. Để đến khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống chạy đua hiện tại, ai trong chúng ta lại chẳng có một thoáng mong được một lần, trở về với những kỷ niệm đó, của một thời đã qua mà giờ đây đã trở thành vô giá? Một lần, dù chỉ một lần thôi… Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - THÁNG MƯỜI MỘT
Tháng Mười Một, theo niềm tin Ki-tô giáo, là tháng đặc biệt dành cho sự thông công với các linh hồn đã khuất. Trong khoảng thời gian này, người Ki-tô hữu nhớ tới những người thân, Ông Bà, Cha Mẹ đã không còn có thể ở lại để chia sẻ với chúng ta những niềm vui, những nỗi buồn, những hân hoan hy vọng hay những ưu tư lắng lo. Tháng Mười Một, trang Vân Đài Loại Ngữ có hai cái tang. Xin đọc tiếp...
THÀNH KÍNH PHÂN ƯU
Người ta cho rằng khi một người nằm xuống, một vì sao trên trời sẽ sụp tắt. Hôm qua ngày 03 tháng 11 năm 2007, những người dân sinh sống ở vùng thủ đô Bruxelles thuộc Vương Quốc Bỉ, đã không còn nhìn thấy chiếu sáng nữa vì sao bản mệnh của Thân Mẫu Bạn Hữu Nguyễn Trần Cao Huỳnh lớp Chín Bốn (1974-1975) Xin đọc tiếp...
THƯ GỬI CÁC EM CỰU HỌC SINH TRUNG TÂM GIÁO DỤC LÊ QUÝ ÐÔN (THẦY NGUYỄN THẤT HIỆP, GIÁO SƯ TOÁN, 20071002)
Vài cảm nghĩ về các học sinh của Trung Tâm Giáo dục Lê Quí Đôn
Tôi đã tham dự nhiều buổi họp mặt của các học sinh cũ của Trung Tâm Giáo Dục Lê Quí Đôn. Nhưng các buổi họp mặt này cũng là của những nhóm bạn cùng lớp, hoặc cùng năm học. Qua những buổi họp mặt này, tôi đã tìm lại được một chút tình cảm của những năm còn dạy học tại Trung Tâm Giáo dục Lê Quí Đôn. Những tình cảm thật trong sáng, đậm đà và vui tươi. Và cũng nhờ những buổi họp mặt này, tôi được biết tình trạng cuộc sống và sinh hoạt của các em trong hiện tại. Xin đọc tiếp...
CHUYỆN HAI NGƯỜI – SONG LONG
Qua các bài viết của Bạn Trần Nguyên Hùng đăng trên Vân Đài Loại Ngữ, chúng ta đã thấy những kỷ niệm vụn vặt thuở cắp sách đến trường thật là dễ thương và đáng nhớ. Trong lần họp mặt vừa qua, những kỷ niệm về Thầy Cô, bạn bè lại được nhắc đi nhắc lại với trìu mến, nhớ nhung lẫn tiếc nuối. Tuy nhiên, những kỷ niệm được nhắc đến nhiều nhất vẫn là những mối tình tuổi học trò. Chàng này để ý cô nọ, nàng đó dọ hỏi anh kia. Xin đọc tiếp... TÔI ĐI HỌC - THANH TỊNH
Hằng năm, cứ vào cuối thu, lá ngoài đường rụng nhiều, và trên không có những đám mây ban bạc, lòng tôi lại nao nức những kỷ niệm mơn man của buổi tựu trường. Xin đọc tiếp... ÔN CỐ TRI TÂN - BÙI KHƯƠNG BỘI HOÀN
"Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn, đống rác giữa đô thành" Thưa các bạn hữu, Trên đây là tựa một bài báo mà cách nay gần bốn mươi năm về trước, ba mẹ tôi đã cho tôi đọc sau khi đã xem xong. Gần bốn mươi năm sau, tôi vẫn còn nhớ như in hàng tựa cùng nội dung bài báo thì các bạn đủ biết lúc đó nó đã gây sốc cho trí óc non nớt của tôi như thế nào! Xin đọc tiếp... LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG - TRƯỜNG LỚP TÔI - Thơ SONG LONG
Không bao giờ tôi có cái tư tưởng ngông cuồng dùng cây viết để khoe khoang về cái lớp Chín Bốn của tôi. Không bao giờ! Những giòng chữ mà Quý Thầy Cô và các Bạn đang đọc đây là kết quả của nhiều lần tôi tự hỏi, nên hay không nên viết lại những những kỷ niệm của một thời đã rất xa mà mỗi khi nhớ đến, chúng ta không khỏi bâng khuâng, ngậm ngùi. Và rồi một hôm đọc trên trang Vân Đài Loại Ngữ, thấy Vân Đài đã mượn câu chuyện một anh chàng lọ mọ vượt đường trường, lấy cớ tới xin kẹo để mong được gặp người trong mộng nhớ thương mà viết rằng: ...Và nói những điều chưa kịp nói Không thôi mai mốt lỡ anh quên Vân Đài, Halloween xin kẹo Tôi mới nhận thức được tính cách khẩn thiết phải ghi lại những mẩu chuyện vụn vặt, nghe ra rất tầm thường, nhưng tới một lúc nào đó sẽ trở nên những thứ quý giá nhất trên đời không của cải thế gian nào có thể đánh đổi được. Xin đọc tiếp... LÁ THƯ TRẦN TRỌNG HUY - TẤM CHÂN TÌNH...
Các Bạn Thân Mến, Thắm thoát chúng ta gặp nhau đã hai tuần rồi; những kỷ niệm xa xưa bộc lộ bằng những ánh mắt chân tình cùng những lời nói đùa nghịch của thuở thơ ngây là những gì còn vương vấn hôm nay đây. Hy vọng rằng khoảng thời gian ngắn ngủi của buổi họp mặt vừa rồi sẽ là chât xúc tác cho những lần gặp gỡ sau này. Cái tâm trạng như Quốc Hưng diễn tả,"Sự bồi hồi không lộ ra bằng cử chỉ. Sự xúc động không thốt được bằng lời” sẽ được gìn giữ, trân trọng như là một món quà trong quãng hành trình còn lại của cuộc đời mỗi chúng ta. Xin đọc tiếp... LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG - CỐ NHÂN
Ba mươi năm hơn, ngôi trường xưa còn đó, Nghe nói không đổi nhiều, chỉ vắng cố nhân thôi. Cùng với những nốt nhạc nhẹ nhàng, khoan thai của giai điệu bài tình ca My Memory (Park Yeong Won, Ryu), hai câu thơ trên, trích từ bài thơ Trường Cũ... Người Xưa của Lê Quốc Hưng, dìu đưa chúng ta trở lại khung trời yêu thương của tuổi thơ dại: khung trời Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn. Xin đọc tiếp... THƠ HAI CHỮ - TRẦN NGUYÊN HÙNG
Hưng, Đễ và các bạn thân, Moa hổng biết làm thơ thế nào cho hay. Làm được vài bài thơ tự mình cho là hay thì thiên hạ bảo nhau thằng đó làm thơ... lời nhiều, ý ít... lại đâm rỗng bài... Buồn quá moa bèn khăn gói đi Ba-Lê tầm sư học đạo vì nghe nói có Bùi Thi Nương làm thơ hay lắm, hiện đang xuống núi cứu nhân độ thế! Xin đọc tiếp... LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG - ĂN PHỞ BI-DA Ở DƯỚI NHÀ
Ở Paris, quận Mười Ba, có hai tiệm phở Bi-Da, cách nhau không xa.
Ghé Paris chỉ có vài tiếng đồng hồ nên đám bạn cũ mượn cớ đi ăn phở, cốt chỉ là để gặp nhau nói chuyện ta bà, chuyện ố-là-la.
Xin đọc tiếp... LÁ THƯ NAM CHI (南支) - NHỮNG CHIẾC BÁNH
Kính xin được chia sẻ với Quý Thầy Cô và các Bạn.
Xin đọc tiếp... LÁ THƯ LÊ QUỐC HƯNG - BÀI THƠ CHIỀU HẠ EM RA PHỐ
Lê Quốc Hưng giới thiệu
CHIỀU HẠ EM RA PHỐ Thơ Bùi Khương Bội Hoàn Nhạc Trần Nguyên Hùng Thơ là kỷ niệm, là những gì được gói ghém tự đáy lòng. Cho nên thơ lúc nào cũng hay, dù cho không hay đối với người đọc thì cũng hay đối với người đã đem tâm sự của mình đễ thố lộ với nhân gian.
Xin đọc tiếp... VÂN ĐÀI CHÍ DỊ (蕓臺志异) - BỒ NAM CHI (蒲南支)
Nho sinh họ Nguyễn, tên tự Thế Đức, hàng xóm láng giềng thường gọi là Nguyễn Sinh, một hôm nằm mộng thấy mình lạc tới một chốn nhìn lạ lắm. Lúc choàng tỉnh dậy, lòng dạ bâng khuâng, ngút ngàn, rộn ràng, ngổn ngang... rồi tịnh an, nhẹ nhàng. Xin đọc tiếp...
THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ - LÁ THƯ HỒI ÂM - TRẦN HIẾU ĐỄ
THƯ HỒI ÂM KÍNH GỬI THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ Kính thưa Thầy, Đầu thư, chúng em xin kính chúc Thầy cùng gia quyến được an khang và thịnh vượng, riêng Thầy, thân tâm thường an lạc. Xin đọc tiếp...
THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ - LÁ THƯ VIẾT TAY CỦA THẦY TỪ VIỆT NAM
Thư cảm ơn của Thầy Đoàn Văn Phê. Thân gởi em Trần Nguyên Hùng và các cựu học sinh TTGD Lê Quý Đôn. Trước hết tôi hết sức trân trọng những tình cảm thân thiết, quý báu mà các em đã dành cho tôi. Các em học với tôi từ hơn ba mươi năm trước mà đến nay vẫn không quên tôi thì thực là một niềm an ủi sâu sắc đối với tôi và những người làm nghề dạy học như tôi. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ NAM CHI (南支) - KHAI BÚT ĐẦU XUÂN
Đất Trời bước nhẹ sang một năm mới. Năm cũ chấm dứt cùng lúc với chương trình vận động quyên góp giúp Thầy Đoàn Văn Phê. Xin đọc tiếp...
THƯ CẢM TẠ - TRẦN HIẾU ĐỄ
Mặc dù ngôi trường của chúng ta là một trong những trường xưa nhất Việt Nam, nhưng Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn lại “sinh sau đẻ muộn”. Tuy vậy, trường chúng ta vẫn có nhiều truyền thống tốt đẹp như giúp đỡ thầy xưa, bạn cũ trong những lúc khó khăn. Xin đọc tiếp...
THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ - DIỄN BIẾN CHƯƠNG TRÌNH LẠC QUYÊN
Trong lúc Nguyễn Thế Đức đến gặp Vân Đài để cùng nhau thay mặt nhóm miền Đông Canada gởi quà về Việt Nam trong chương trình lạc quyên giúp tiền thuốc men cho Thầy Đoàn Văn Phê, tôi ngồi một mình viết những dòng chữ này. Trời hôm nay lạnh lắm, -18oC, lại có gió và độ ẩm lên tới 78%. Tuyết rơi lất phất làm mọi việc di chuyển càng thêm phức tạp. Xin đọc tiếp...
THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ - LÁ THƯ TRẦN HIẾU ĐỄ - NGUYỄN HOÀNG CHƯƠNG
Từ San Jose, Bạn Hữu Trần Hiếu Đễ đã gởi lời kêu gọi sau đây: ...Xin xem forwarded email từ Hùng để biết rõ hơn về tình trạng hiện nay của thầy Phê, dạy Việt văn... Từ Sydney, Bạn Hữu Nguyễn Hoàng Chương đã gởi lời kêu gọi sau đây:
Thưa Thầy Diệm và các bạn thân mến, Xin Thầy và các bạn xem đọc mail của bạn Trần Nguyên Hùng, Trần Hiếu Đễ và Lê mạnh Hòa về việc kêu gọi sự giúp đỡ của tất cả chúng ta đối với Thầy Đoàn Văn Phê (Thầy dạy môn Việt Văn). Lần này, cũng như lần trước xin mong các bạn huởng ứng gửi cheque về địa chỉ của tôi, rồi tôi sẽ tập trung chuyển về cho bạn Trương Nhựt Đôn, VN để Đôn sẽ làm một chuyến đến thăm thầy Phê. Xin đọc tiếp...
THẦY ĐOÀN VĂN PHÊ - LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG
Hôm trước, lúc ăn cơm trưa với Nguyễn Thế Đức ở trong chỗ làm, Đức có cho tôi một cái thẻ để gọi điện thoại đường xa. Nhận của Đức nhưng chẳng biết sẽ dùng làm gì, gọi cho ai, nên bỏ vào túi rồi bẵng đi một thời gian quên luôn mất. Hôm vừa qua lại nhận được e-mail báo tin Thầy Đoàn Văn Phê, trước dạy chúng tôi môn Quốc Văn năm lớp Bảy (1972-1973), đang bệnh nặng, lại sẵn có cái thẻ Đức cho hôm nọ nên tôi đường đột gọi về cho Thầy. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ LÊ QUỐC HƯNG - LẬP ĐÔNG 2006
Kính Chào Quý Thầy Cô, Thân Chào Các Bạn Hữu, Xin cám ơn Vân Đài và Nam Chi đã tin tưởng, giao phó trọng trách viết lá thư ngỏ mùa Đông cho trang Vân Đài Loại Ngữ. Cũng xin cám ơn bạn Bùi Khương Bội Hoàn đã viết giúp những bài thơ lồng cho lá thư ngỏ này. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ TRẦN NGUYÊN HÙNG - MỘT CHUYẾN VIẾNG THĂM
Đằng sau hình ảnh Vị Thầy nghiêm nghị và khô khan ấy là một con người hiền hòa, chất phác và có lòng mộ đạo thuận thành. Thầy Tổng Giám Thị Võ Văn Bê của chúng ta đó. Ngày hôm 20 tháng 11 năm 2006, cũng như hàng tháng, Thầy lên chùa cúng Phật và chỉ trở về để ngạc nhiên nhìn thấy những người khách lạ đến viếng thăm. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - VẦNG TRĂNG CỦA TÔI
Làm người, không ít thì nhiều, ai cũng có những vị Thầy Cô đáng kính để nhớ mãi; những người bạn thân quen để còn gọi nhau là bằng hữu. Bây giờ tất cả đã trở thành kỷ niệm. Kỷ niệm là vầng trăng soi lối để tìm về với nhau. Dưới ánh sáng vằng vặc và diệu vợi, chúng ta bước tới, thơ ngây như ngày nào, lòng tràn đầy hy vọng và tin yêu. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - TÌM NHAU
Đang tính đi thì chợt có chuông reo. Trở vào nghe điện thoại thì không ngờ lại có tin vui! Thầy Lê Hà Quảng Lan mới đây có kể về việc Thầy gặp lại một người học trò cũ mà Thầy đã bỏ công tìm kiếm từ bao nhiêu lâu nay như vậy đó! Trang Vân Đài Loại Ngữ xin được chia vui cùng Thầy Lê Hà Quảng Lan và người bạn TTGD Lê Quý Đôn cũ. Chúng tôi cũng xin cám ơn các bạn bè gần xa đã phụ giúp chúng tôi một tay trong công việc nối lại liên lạc giữa Thầy Cô và bạn bè thân quen. Xin đọc tiếp...
LÁ THƯ NAM CHI (南支) - MÙA THU VÀ TÌNH YÊU Mùa thu, đất trời khoác áo màu tình yêu. Tình yêu chắc hẳn phải là thơ mộng và đậm nét, đã in dấu trong tâm khảm và tiềm thức của thi nhân. Thế nên, cho dù tuổi phong sương, con người ta vẫn gắng đi tìm. Anh muốn tìm quãng đời nào thơ dại, Em ngây thơ ngần ngại chiếc hôn đầu. Lê Quốc Hưng, Tìm Lại Ngày Xưa. Xin đọc tiếp... LÁ THƯ VÂN ĐÀI (蕓臺) - CUỐI HẠ Cùng tất cả Quý Vị, Ngoảnh mặt nhìn lại một khoảng thời gian khá dài, làm sao con người bé nhỏ, yếu đuối của chúng ta không khỏi bồi hồi suy nghĩ. Những thành tựu vang vọng không cho chúng ta chế ngự được cái vật thể vô tình cứ thản nhiên gõ tiếng khiến hoa lá đổi màu, làm cuộc đời tan biến... Xin đọc tiếp... THƯ CÁC THẦY CÔ CŨ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Xin nhấn vào đây để được dẫn đến trang này. CHỢT NHƯ DĨ VÃNG LẠI QUAY VỀ... - THỦY CÁC (水阁), VÂN ÐÀI (蕓臺)
NHỮNG DÒNG THƠ CŨ - VÂN ÐÀI (蕓臺)
LIỀU THUỐC BỔ NGỬA
CÁC TRUYỆN NGẮN NHẬN ĐƯỢC
Thơ - CÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC IIICÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC III
Thơ - CÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC IICÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC II
Thơ - CÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC I CÁC BÀI THƠ NHẬN ĐƯỢC I
|
||||
|
|