| Le 的个人资料Trung Tâm Giáo Dục LÊ QU...照片日志列表 | 帮助 |
LÁ THƯ KÍNH GỞI THẦY CÔ: QUE DIÊM CUỐI CÙNG... Trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy...
Quý Thầy Cô của Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn,
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em, Xin Quý Thầy Cô cho phép chúng em được bắt đầu lá thư này bằng một câu chuyện nho nhỏ nhưng đã buộc chúng em phải suy nghĩ rất nhiều.
Lớp chúng em có một anh Trưởng Lớp rất hiền lành và tốt bụng. Năm 2006, khi được các bạn bên ngoài nhờ giúp tìm kiếm Thầy Tổng Giám Thị Võ Văn Bê hiện cư ngụ tại Chợ Gạo, Tiền Giang, anh ấy đã không ngần ngại nhận lời bất chấp đường xá cách trở, bất chấp đi lại tốn kém và bất chấp hoàn cảnh kinh tế gia đình rất eo hẹp. Ra đi từ tờ mờ sáng để còn về kịp trong ngày, không có lấy một con số, hay tên một con hẻm trong tay, anh ấy vẫn tìm tới được nhà của người Thầy cũ. Nhưng hôm ấy anh không may mắn: Thầy đã đi thăm rẫy từ sáng và sẽ không trở về để anh kịp gặp. Anh ngồi chơi với Cô một chút rồi cáo từ ra về không quên gởi lại một ít hiện kim biếu Thầy Cô làm quà. Chút hiện kim ấy, với chúng ta ở ngoài, chẳng đáng là bao, nhưng với gia đình anh bạn chúng em là cả một ngân khoản to lớn.
Rồi lần thăm viếng sau anh bạn và các bạn cùng lớp đã may mắn hơn, gặp được Thầy cũ để hàn huyên, để tâm sự và để kể cho nhau nghe những chuyện ngày xưa đã chẳng phai mờ vì năm tháng hay vì không gian cách trở. Thầy Bê vui mừng xen lẫn với bối rối vì Thầy chẳng nhớ được lấy một người ngày xưa là đứa nào, con của ai... Thầy cố đào xới trong tiềm thức nhưng sao hình ảnh thời ấy lu mờ quá, xa vời quá, mờ xa như những ước mơ của tuổi thanh xuân đã chẳng trở nên hiện thực... Những bức hình chụp Thầy Bê hôm ấy được gởi ra ngoài đã làm cho rất nhiều người xúc động.
Có người viết thư kể lại đã phải để cho những dòng nước mắt dâng trào, không ngăn lại được!
Cũng anh Trưởng Lớp này, trong một giai đoạn rất khó khăn, đã phải đem cầm những món đồ cuối cùng trong gia đình để có tiền chi tiêu qua ngày. Đem đến tiệm, người tiếp anh hôm đó, cũng là chủ tiệm, là một người Thầy khác dạy Quốc Văn ngày trước. Thầy nhận ra anh ngay vì sau bao nhiêu năm không gặp, vẫn giọng nói ồ ề, chậm rãi đó, vẫn dáng đi nhẹ nhàng, hiền hậu đó, người Thầy xưa, vốn là Giáo Sư Hướng Dẫn của lớp chúng em, làm sao quên được?
Trời ơi! Mày đó hả? Người Thầy thốt lên.
Hai Thầy trò gặp nhau trong hoàn cảnh như thế, vui sao kể xiết, nhưng có một cái gì đó xót xa, một cái gì đó nghẹn ngào chập chờn, ẩn hiện...
Một câu chuyện khác, chúng em xin kể về một nhà truyền giáo người Canada đã sang Việt Nam từ lúc tuổi đời còn thanh xuân, đã sống đời tận hiến để mang tình thương đến cho những kẻ khốn cùng: Cha Michel Laliberté, còn có tên Việt Nam là Hoàng.
Cha sinh năm 1915, sang Việt Nam năm 1938 khi còn đang là một chủng sinh dòng Chúa Cứu Thế. Chịu chức linh mục năm 1943, Cha Hoàng đã gần như sẽ chẳng còn bao giờ quay lại quê hương xứ Québec nếu Cha không bị trục xuất năm 1976, sau ba mươi tám năm tận tụy từ Bắc vô Nam dấn thân thi hành tác vụ một sứ giả của tình thương. Trong những năm ấy, Cha lập bệnh viện chăm sóc kẻ bệnh tật, Cha mở trường giúp các trẻ em nghèo có phương tiện theo đuổi việc học, không biết mỏi mệt.
Cha Hoàng có một cô học trò bé nhỏ mà Cha rất mực yêu thương như con của Cha. Người học trò ấy đã từng theo Cha và giúp Cha dạy học ở Thái Hà Ấp. Địa danh Thái Hà này, nếu như ngày xưa được xem là cái nôi của dòng Chúa Cứu Thế Thừa Sai, của yêu thương và của chia sẻ thì ngày nay, Thái Hà, cùng với tòa Khâm Sứ cũ, lại trở nên trung tâm điểm nơi xảy ra những bất công, những bắt bớ, những đàn áp. Cùng một chốn ngày trước, xưa vẳng tiếng trẻ thơ ê a, nghêu ngao những câu ca dao đơn sơ, những vần thơ thắm thiết, nay nhường chỗ cho những tiếng thét la, quát tháo của những kẻ đánh mất tình người, đánh mất lương tri, đánh mất nhân bản. Nhìn thấy trước được hiểm họa này, Cha Hoàng đưa toàn bộ ban giảng huấn của Cha và phần lớn các em học sinh cùng với gia đình của họ, hòa nhập với dòng hơn một triệu người lià bỏ ruộng vườn, khoảnh đất, nương khoai xuôi vào miền Nam tìm sự sống và tự do.
Người học trò bé nhỏ xưa là Mẹ của một người trong chúng em. Định cư tại Montréal, QC, Bà đã liên lạc lại được với Cha Hoàng ở thành phố Québec và khi còn khoẻ mạnh, Bà cùng gia đình vẫn thường hay lên thăm Cha. Cha Hoàng sống một đời sống khó nghèo, đơn sơ cho đến khi mãn phần. Ai cho Cha ít tiền hôm trước là y như ngày hôm sau, Cha gởi hết về Việt Nam cho những gia đình Cha quen biết vẫn còn ở trong nước và đang sống trong tình trạng khó khăn. Cha chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân của mình, thậm chí có người trong chúng em thấy Cha bối rối khi bị phát hiện mang giày một chiếc có xỏ giây, một chiếc không; hay như lắm lúc Cha mang đôi vớ với hai chiếc khác màu.
Cuộc sống hơn chín mươi hai năm dài của Cha Hoàng Michel Laliberté được ghi ấn bằng những dấu chỉ của tình yêu và lòng thương xót, rất mực khoan nhân và rất đáng gọi là hy hữu. Hy hữu như cuộc đời của một người đã tự nguyện từ bỏ đời sống vật chất no đầy, dấn thân tới một miền đất xa lạ, khác biệt từ giọng nói, tiếng cười cho đến truyền thống, phong tục, thói quen. Hy hữu như những ngày, tháng cuối cuộc đời, hy hữu như những giờ phút Cha Hoàng vĩnh biệt cuộc sống.
Mùa hè năm 2007, Cha Hoàng lúc ấy đã ngoài chín mươi hai tuổi, nhờ người quen đưa Cha xuống Montréal thăm người học trò cũ. Cha muốn thực hiện cuộc viếng thăm này vì Cha biết đấy sẽ là lần sau cùng.
Cha đi thăm con lần này rồi chuẩn bị về với Chúa đây! Cha nói bằng tiếng Việt rất sành sõi.
Người học trò, lúc ấy đã gần tám mươi, nhớ mãi câu nói ấy ở trong lòng. Cho đến cuối tháng 10, năm 2007, trời vào thu đã da diết lạnh lẽo, quá nửa khuya, Bà chợt nhận được một cú điện thoại từ Québec, QC. Cha Hoàng gọi, hỏi thăm sức khoẻ của Bà và của cả gia đình. Cha Hoàng nói chuyện huyên thuyên một hồi những chuyện ngày xưa, những chuyện ngày nay. Rồi Cha chúc lành cho Bà trước khi cúp máy. Chứ chẳng có chuyện gì khẩn cấp đến nỗi Cha phải gọi giữa đêm hôm khuya khoắt, một điều Cha chưa bao giờ làm cả.
Như thể không có chuyện gì quan trọng dù Cha biết rất rõ có một chuyện lớn sẽ xảy ra và đã xảy ra: vài tiếng đồng hồ sau đó Cha trút hơi thở và mãn phần. Cú phone cuối cùng ấy Cha Hoàng gọi từ giường bệnh trong lúc Cha đang bị cơn sốt hành hạ vì vết mổ bị nhiễm trùng. Cha đã chẳng thố lộ cho ai biết rằng Cha đang nằm nhà thương từ hai ngày trước, rằng Cha đang đau đớn, và rằng Cha đang trong cơn thập tử nhất sinh.
Trong cơn thập tử nhất sinh của một đời người, Cha vẫn nhớ tới người học trò cũ của gần sáu mươi năm về trước.
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
Tình nghiã Thầy trò là một thánh vật được trao ban một cách nhưng không.
Gọi là thánh vật vì tình yêu thương ấy thánh thiện và bất diệt. Bên cạnh hằng trăm, hằng ngàn câu chuyện nêu cao tính cách cao quý của tình nghiã Thầy trò, chúng em muốn góp thêm hai câu chuyện bình thường ở trên, bình thường như những mẩu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, để kính xin được thưa rằng chúng em vẫn hằng nâng niu, vẫn hằng ấp ủ những giá trị thiêng liêng của mối liên hệ Thầy trò mà chúng em được thừa hưởng không điều kiện từ lúc còn thảnh thơi, biếng học, ham chơi cho đến ngày nay, với gánh nặng bản thân, gia đình, đất nước trên vai.
Không may mắn thay, từ những mâu thuẫn trước ngày 01 tháng 08 năm 2009 vừa qua, chúng em lại một lần nữa phải nhìn nhận rằng trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy. Nhưng họ có bao nhiêu hay chỉ đếm được trên đầu ngón của một bàn tay; và họ làm được gì hay chỉ khua nên những âm thanh vang dội nghe lạch tạch như những viên pháo lép?
Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
Trong cuộc sống, có những ước mơ đã trở thành hiện thực bên cạnh những giấc mộng tàn phai bị đẩy chìm vào quên lãng.
Cũng vậy, trong một đàn con, tàn nhẫn thay, chúng ta không thể chối bỏ sự hiện hữu của những đứa ngỗ nghịch, cãi lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ phiền lòng khôn nguôi. Nhưng may mắn thay, cũng còn có những đứa hiếu thảo, vâng lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ nở mặt hãnh diện. Lá thư này được gởi đến Quý Thầy Cô trong sự muộn màng, khi những đổ vỡ, mất mát đã xảy ra. Nhưng có một cái gì đó thôi thúc chúng em, như đã từng thôi thúc cô bé bán diêm phải đánh lên ánh lửa cỏn con dù biết đó là que diêm cuối. Giữa tối tăm muôn trùng, từ nguồn sáng nhỏ nhoi của tâm hồn ấy, chúng em vẫn còn nhìn thấy hình ảnh của Quý Thầy Cô là những người chúng em hằng kính trọng và yêu thương; giữa thét la kêu gào, trong một giây phút lắng đọng, chúng em vẫn còn nghe thấy những tiếng gọi, những lời khuyên của Quý Thầy Cô, dịu êm như những kỷ niệm một thời chúng em còn cắp sách đến trường.
Vâng, cho dù đó là que diêm cuối cùng, cho dù đó là một lần sau chót, chúng em vẫn phải đánh lên. Phải đánh lên một nguồn sáng nhỏ nhoi cho tâm tư được lắng đọng một giây, một phút.
Kính chúc Quý Thầy Cô vạn sự bình an.
Lê Quốc Hưng
Nguyễn Thế Đức Trần Hiếu Đễ Trần Nguyên Hùng 引用通告引用此项的网络日志
|
|
|