Le's profileTrung Tâm Giáo Dục LÊ QU...PhotosBlogLists Tools Help

Blog


    TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (02) - TRẦN HIẾU ĐỄ

    Tiếp theo

    Ngày thứ nhì
    Thức giấc lúc năm giờ rưỡi sáng. Không dỗ giấc lại được. Tại jetlag? Hôm nay, tôi được đưa đi thăm một vài nơi ở Tokyo như Senso-ji (Thiển Thảo Tự) và khu thương mại Ginza. Thiển Thảo Tự là một trong những ngôi chùa quan trọng và là ngôi chùa cổ nhất tại Tokyo. Chùa được xây cất vào năm 645. Từ đường phố vào chùa phải qua hai cổng lớn. Cổng ngoài Kaminari-mon (Lôi Môn) cao 11,7m, rộng 11,4m. Cổng trong Hozomon (Bảo Tàng Môn), cao 22,7m, rộng 21m. Treo dưới hai cổng là hai chiếc lồng đèn đỏ khổng lồ.


    Hozomon trước Senso-ji, Tokyo
     

    Đường vào Senso-ji, Tokyo
     
    Hai bên đường vào chùa tấp nập các quầy hàng bán đồ lưu niệm như các bạn thấy trong hình bên trên.
     
    Những bạn nào thích shopping hàng hóa của các nhà chế tạo danh tiếng và có hầu bao rủng rỉnh thì nên viếng qua khu Ginza. Đây là một trong những khu thương mại sang trọng và nổi tiếng trên thế giới (như Fifth Avenue ở New York City hay Champs Elysée ở Paris). Vì không có nhiều xu, nên tôi chỉ đi ngắm các mặt hàng thôi chứ không dám rớ vì sợ… phỏng tay! Hàng trưng bày rất lịch sự và có mỹ thuật nhưng giá cả thì ở tận trên thượng tầng khí quyển! Đi xem cho biết chứ cũng chẳng lấy gì làm thích thú cho lắm.
     
    Ngày thứ ba
    Sáng nay, tôi và gia đình đáp xe lửa định đi Hakone. Hakone nằm trong Fuji-Hakone-Izu National Park. Từ đây, có thể đi trên Hồ Ashi, và nếu trời quang đãng, có thể thấy Phú Sĩ Sơn. Tuy nhiên, hôm nay, trời u ám. Vả lại, xuất hành hơi trễ, thành ra không đủ thì giờ để tới Hakone, Do đó, đành đổi chương trình (vào giờ chót) để đi Gora, một thị trấn nhỏ, dưới chân Soun-zan (Tảo Vân Sơn). Phong cảnh dọc đường thật đẹp. Gora Park là một công viên kiểu Pháp, với nhiều loại hoa. Ở đây cũng có nhà kiếng trồng các loại cây cỏ nhiệt đới.
     
    Gora Park, Kanagawa Prefecture
     
    Gora Park, Kanagawa Prefecture
     
    Sau khi thăm Gora Park, chúng tôi đáp xe lửa tới bán đảo Izu (Y Đậu) là nơi có nhà nghỉ mát của người bà con. Bán đảo Izu nằm về hướng Tây Nam của Đông Kinh, là nơi du lịch với nhiều suối nước nóng (onsen) ở nhiều địa điểm trong vùng. Theo dự tính thì hôm sau, chúng tôi sẽ nghỉ xả hơi để lấy sức đi Kyoto ngày kế tiếp.
     

    Bán đảo Izu

    (Còn tiếp)

    TẠP KÝ NHIỀU KỲ: MỘT CHUYẾN TÂY DU (01) - TRẦN HIẾU ĐỄ

    Lời nói đầu
    Trước tiên, xin được thanh minh đôi lời. Từ thuở đi học, chẳng bao giờ tôi qua được điểm trung bình trong môn Quốc Văn. Cho nên viết một bài văn xuôi cho suông sẻ là chuyện tôi ít dám nghĩ tới. Các bạn đọc cho vui. Nếu không xuôi tai, xin đừng chấp nhứt. Đa tạ.
     
    Dốt văn từ thuở còn thơ,
    Còn thi, còn vận, ngu ngơ tới giờ.
     
    Chương Một:  Đông Kinh và vùng lân cận
    Một chiều cuối xuân, chuyến máy bay của hãng ANA cất cánh rời phi trường quốc tế San Francisco. Cuối cùng rồi tôi cũng làm được một chuyến Tây Du. Một chuyến đi mà tôi đã dự tính từ tám năm qua. Dự tính của năm nay cũng không suông sẻ lắm nên mãi tới gần ngày mà vẫn chưa chắc chắn là sẽ đi được. Trước hết, chuyện suy thoái kinh tế toàn cầu làm mọi người, kể cả tôi, do dự, không biết có nên làm một chuyến du lịch xa. Kế đến, hai tuần trước ngày đi, WHO nâng mức báo động toàn cầu lên cấp 6 vì đại dịch cúm heo. Rủi như tôi bị nóng sốt vì cảm mạo thông thường, mà vì dịch cúm heo, lại bị cách ly một tuần ở ngoại quốc thì …”oan Thị Mầu” quá! Tuy nhiên, trong cái rủi lại có cái may. Vì những lý do trên mà giá vé lại rẻ. Thôi thì đánh liều, nhứt chín nhì bù vậy!
     
    Chuyến bay không có gì đáng nói ngoài cung cách phục vụ chu đáo của các tiếp viên hàng không Nhật. Không tài nào ngủ được trên các chuyến bay đường dài…
     
    Ngày đầu tiên
    Mười một giờ đồng hồ sau, phi cơ hạ cánh xuống phi trường quốc tế Narita, Nhật Bản. Ra khỏi phi cơ, cảm thấy nóng và oi bức. Giống thời tiết bên nhà! Bên trong terminal, mặc dù nhiều hành khách và nhân viên, nhưng vẫn yên lặng và rất sạch sẽ. Ngay cả overhead public announcement cũng không “oang oang”. Không gặp khó khăn nào khi qua trạm di trú và quan thuế. Phải nhìn nhận rằng cung cách phục vụ chuyên nghiệp và sự lễ độ của các nhân viên Nhật, công cũng như tư, làm cho khách vãng lai cảm thấy welcomed.
     
    Thủ tục giấy tờ xong, tôi đi tìm quầy Japan Railway (JR) để đổi Japan Rail Pass Voucher. Xin mạn phép được mở ngoặc ở đây, nếu không có ý định tham gia các tours du lịch, các bạn nên mua Japan Rail Pass để có thể tùy nghi tung hoành ngang dọc khắp nước Nhật vì vé xe lửa mua tại đây rất mắc. JR Pass có hiệu lực bảy ngày giá khoảng USD 300 (cho người lớn). Trong khi đó, một vé khứ hồi Tokyo-Kyoto cũng tròm trèm giá đó.
     
    Lấy chuyến xe Narita Express (xài JR Pass) từ phi trường về Đông Kinh, chỉ một tiếng sau là tới trạm Shinagawa ở Tây Nam thủ đô. Trong nhà ga, hàng ngàn người lũ lượt ngược xuôi khắp mọi nơi. Lần đầu tiên, phải đối diện với một “biển người” như vậy, tôi khựng lại, chưa nghĩ ra phương cách để đi tới. Bỗng nhớ đến chuyện “Việt kiều” không dám băng qua đường, lần đầu tiên về Sài Gòn. Chỉ còn cách duy nhất là nhắm hướng muốn đi và tiến tới. Tức thì dòng người tự động dạt ra, như Moses vượt qua Hồng Hải thuở nào…
     
    Đêm đầu tiên tại Nhật, tôi được người bà con dẫn đi dạo phố và ăn sushi. Mặc dù đã gần 23 giờ đêm nhưng ngoài đường phố cũng như tại các tụ điểm giải trí, các quán ăn đều đông nghẹt. Được giải thích là người Nhật, ở các thành phố lớn, có thói quen ăn nhậu, vui chơi cùng bạn bè, đồng nghiệp sau giờ tan sở. Dường như họ phải sống trong khuôn khổ gò bó, phải cư xử với nhau tại trường sở theo đúng cung cách mà xã hội Nhật đã đặt ra, nên khi được thư giãn thì họ “bung” và “quậy tới bến” tại các nơi giải trí. Đến cuối ngày, họ có thể “sống thật” cho đến khi đáp các chuyến tàu đêm cuối cùng để về nhà…
     
    Các bạn hỏi, “Còn món sushi ở Nhật thế nào?” Số dách! Cá tươi đến độ không nếm thấy vị tanh. Nếu đến những tiệm hạng trung thì giá cả cũng xấp xỉ các tiệm sushi ở Cali, nhưng phẩm chất lại ngon hơn nhiều. Thiên đường cho những ai thích sushi!
     
    (Còn tiếp)

    LÁ THƯ THẦY NGUYỄN VĂN HẢI: SÁM HỐI VÀ THƯƠNG YÊU, THA THỨ

    Các em:  Nguyễn Thế Đức
                  Lê Quốc Hưng
                  Trần Hiếu Đễ
                  Trần Nguyên Hùng thân mến,
     
    Trong bóng đêm, thầy mò mẫm tìm hộp diêm dùng dở (chắc cũng đến trên dưới một năm rồi). Trong hộp chỉ còn đúng một que. Thật thận trọng, thầy đánh diêm lên. Bóng tối bị xua đi ngay bởi đốm lửa vừa rực sáng!

    Vẫn trong bóng tối ấy thầy thấy hiện lên rất rõ một khuôn mặt còn rất trẻ, đầu hơi cúi xống, tỏ dấu ăn năn, thật tâm sám hối, chứ không nghênh ngang, đầy giận dữ như trước đây của một.. nghịch đồ!

    Que diêm tiếp tục cháy... cháy... cho đến cuối. Trước khi tắt, đốm lửa kịp bùng lên lần cuối. Và vẫn trong bóng tối ấy, thầy thấy hiện lên một khuôn mặt khắc khổ hơn nhưng lại hết sức hiền từ, khoan hòa, và lại còn khẽ mĩm cười lộ đầy vẻ thương yêu tha thứ...
     
    Các em rất thân thương của thầy ơi,

    Trăm năm là kiếp con người, nhưng thử hỏi trên đời này mấy ai đã sống đến trăm năm? Thế tại sao cứ mãi làm khổ nhau mà không đối xử với nhau bằng TÌNH THƯƠNG và THA THỨ?
     
    Thầy (NGUYỄN VĂN) HẢI, 20090903

    LÁ THƯ KÍNH GỞI THẦY CÔ: QUE DIÊM CUỐI CÙNG

    ... Trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy...
     
    Quý Thầy Cô của Trung Tâm Giáo Dục Lê Quý Đôn,
    Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
     
    Xin Quý Thầy Cô cho phép chúng em được bắt đầu lá thư này bằng một câu chuyện nho nhỏ nhưng đã buộc chúng em phải suy nghĩ rất nhiều.
     
    Lớp chúng em có một anh Trưởng Lớp rất hiền lành và tốt bụng. Năm 2006, khi được các bạn bên ngoài nhờ giúp tìm kiếm Thầy Tổng Giám Thị Võ Văn Bê hiện cư ngụ tại Chợ Gạo, Tiền Giang, anh ấy đã không ngần ngại nhận lời bất chấp đường xá cách trở, bất chấp đi lại tốn kém và bất chấp hoàn cảnh kinh tế gia đình rất eo hẹp. Ra đi từ tờ mờ sáng để còn về kịp trong ngày, không có lấy một con số, hay tên một con hẻm trong tay, anh ấy vẫn tìm tới được nhà của người Thầy cũ. Nhưng hôm ấy anh không may mắn: Thầy đã đi thăm rẫy từ sáng và sẽ không trở về để anh kịp gặp. Anh ngồi chơi với Cô một chút rồi cáo từ ra về không quên gởi lại một ít hiện kim biếu Thầy Cô làm quà. Chút hiện kim ấy, với chúng ta ở ngoài, chẳng đáng là bao, nhưng với gia đình anh bạn chúng em là cả một ngân khoản to lớn.
     
    Rồi lần thăm viếng sau anh bạn và các bạn cùng lớp đã may mắn hơn, gặp được Thầy cũ để hàn huyên, để tâm sự và để kể cho nhau nghe những chuyện ngày xưa đã chẳng phai mờ vì năm tháng hay vì không gian cách trở. Thầy Bê vui mừng xen lẫn với bối rối vì Thầy chẳng nhớ được lấy một người ngày xưa là đứa nào, con của ai... Thầy cố đào xới trong tiềm thức nhưng sao hình ảnh thời ấy lu mờ quá, xa vời quá, mờ xa như những ước mơ của tuổi thanh xuân đã chẳng trở nên hiện thực... Những bức hình chụp Thầy Bê hôm ấy được gởi ra ngoài đã làm cho rất nhiều người xúc động.
     
    Có người viết thư kể lại đã phải để cho những dòng nước mắt dâng trào, không ngăn lại được!
     
    Cũng anh Trưởng Lớp này, trong một giai đoạn rất khó khăn, đã phải đem cầm những món đồ cuối cùng trong gia đình để có tiền chi tiêu qua ngày. Đem đến tiệm, người tiếp anh hôm đó, cũng là chủ tiệm, là một người Thầy khác dạy Quốc Văn ngày trước. Thầy nhận ra anh ngay vì sau bao nhiêu năm không gặp, vẫn giọng nói ồ ề, chậm rãi đó, vẫn dáng đi nhẹ nhàng, hiền hậu đó, người Thầy xưa, vốn là Giáo Sư Hướng Dẫn của lớp chúng em, làm sao quên được?
     
    Trời ơi! Mày đó hả? Người Thầy thốt lên.
     
    Hai Thầy trò gặp nhau trong hoàn cảnh như thế, vui sao kể xiết, nhưng có một cái gì đó xót xa, một cái gì đó nghẹn ngào chập chờn, ẩn hiện...
     
    Một câu chuyện khác, chúng em xin kể về một nhà truyền giáo người Canada đã sang Việt Nam từ lúc tuổi đời còn thanh xuân, đã sống đời tận hiến để mang tình thương đến cho những kẻ khốn cùng: Cha Michel Laliberté, còn có tên Việt Nam là Hoàng.
     
    Cha sinh năm 1915, sang Việt Nam năm 1938 khi còn đang là một chủng sinh dòng Chúa Cứu Thế. Chịu chức linh mục năm 1943, Cha Hoàng đã gần như sẽ chẳng còn bao giờ quay lại quê hương xứ Québec nếu Cha không bị trục xuất năm 1976, sau ba mươi tám năm tận tụy từ Bắc vô Nam dấn thân thi hành tác vụ một sứ giả của tình thương. Trong những năm ấy, Cha lập bệnh viện chăm sóc kẻ bệnh tật, Cha mở trường giúp các trẻ em nghèo có phương tiện theo đuổi việc học, không biết mỏi mệt.
     
    Cha Hoàng có một cô học trò bé nhỏ mà Cha rất mực yêu thương như con của Cha. Người học trò ấy đã từng theo Cha và giúp Cha dạy học ở Thái Hà Ấp. Địa danh Thái Hà này, nếu như ngày xưa được xem là cái nôi của dòng Chúa Cứu Thế Thừa Sai, của yêu thương và của chia sẻ thì ngày nay, Thái Hà, cùng với tòa Khâm Sứ cũ, lại trở nên trung tâm điểm nơi xảy ra những bất công, những bắt bớ, những đàn áp. Cùng một chốn ngày trước, xưa vẳng tiếng trẻ thơ ê a, nghêu ngao những câu ca dao đơn sơ, những vần thơ thắm thiết, nay nhường chỗ cho những tiếng thét la, quát tháo của những kẻ đánh mất tình người, đánh mất lương tri, đánh mất nhân bản. Nhìn thấy trước được hiểm họa này, Cha Hoàng đưa toàn bộ ban giảng huấn của Cha và phần lớn các em học sinh cùng với gia đình của họ, hòa nhập với dòng hơn một triệu người lià bỏ ruộng vườn, khoảnh đất, nương khoai xuôi vào miền Nam tìm sự sống và tự do.
     
    Người học trò bé nhỏ xưa là Mẹ của một người trong chúng em. Định cư tại Montréal, QC, Bà đã liên lạc lại được với Cha Hoàng ở thành phố Québec và khi còn khoẻ mạnh, Bà cùng gia đình vẫn thường hay lên thăm Cha. Cha Hoàng sống một đời sống khó nghèo, đơn sơ cho đến khi mãn phần. Ai cho Cha ít tiền hôm trước là y như ngày hôm sau, Cha gởi hết về Việt Nam cho những gia đình Cha quen biết vẫn còn ở trong nước và đang sống trong tình trạng khó khăn. Cha chẳng bao giờ nghĩ đến bản thân của mình, thậm chí có người trong chúng em thấy Cha bối rối khi bị phát hiện mang giày một chiếc có xỏ giây, một chiếc không; hay như lắm lúc Cha mang đôi vớ với hai chiếc khác màu.
     
    Cuộc sống hơn chín mươi hai năm dài của Cha Hoàng Michel Laliberté được ghi ấn bằng những dấu chỉ của tình yêu và lòng thương xót, rất mực khoan nhân và rất đáng gọi là hy hữu. Hy hữu như cuộc đời của một người đã tự nguyện từ bỏ đời sống vật chất no đầy, dấn thân tới một miền đất xa lạ, khác biệt từ giọng nói, tiếng cười cho đến truyền thống, phong tục, thói quen. Hy hữu như những ngày, tháng cuối cuộc đời, hy hữu như những giờ phút Cha Hoàng vĩnh biệt cuộc sống.
     
    Mùa hè năm 2007, Cha Hoàng lúc ấy đã ngoài chín mươi hai tuổi, nhờ người quen đưa Cha xuống Montréal thăm người học trò cũ. Cha muốn thực hiện cuộc viếng thăm này vì Cha biết đấy sẽ là lần sau cùng.
     
    Cha đi thăm con lần này rồi chuẩn bị về với Chúa đây! Cha nói bằng tiếng Việt rất sành sõi.
     
    Người học trò, lúc ấy đã gần tám mươi, nhớ mãi câu nói ấy ở trong lòng. Cho đến cuối tháng 10, năm 2007, trời vào thu đã da diết lạnh lẽo, quá nửa khuya, Bà chợt nhận được một cú điện thoại từ Québec, QC. Cha Hoàng gọi, hỏi thăm sức khoẻ của Bà và của cả gia đình. Cha Hoàng nói chuyện huyên thuyên một hồi những chuyện ngày xưa, những chuyện ngày nay. Rồi Cha chúc lành cho Bà trước khi cúp máy. Chứ chẳng có chuyện gì khẩn cấp đến nỗi Cha phải gọi giữa đêm hôm khuya khoắt, một điều Cha chưa bao giờ làm cả.
     
    Như thể không có chuyện gì quan trọng dù Cha biết rất rõ có một chuyện lớn sẽ xảy ra và đã xảy ra: vài tiếng đồng hồ sau đó Cha trút hơi thở và mãn phần. Cú phone cuối cùng ấy Cha Hoàng gọi từ giường bệnh trong lúc Cha đang bị cơn sốt hành hạ vì vết mổ bị nhiễm trùng. Cha đã chẳng thố lộ cho ai biết rằng Cha đang nằm nhà thương từ hai ngày trước, rằng Cha đang đau đớn, và rằng Cha đang trong cơn thập tử nhất sinh.
     
    Trong cơn thập tử nhất sinh của một đời người, Cha vẫn nhớ tới người học trò cũ của gần sáu mươi năm về trước.
     
    Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
     
    Tình nghiã Thầy trò là một thánh vật được trao ban một cách nhưng không.
    Gọi là thánh vật vì tình yêu thương ấy thánh thiện và bất diệt.
     
    Bên cạnh hằng trăm, hằng ngàn câu chuyện nêu cao tính cách cao quý của tình nghiã Thầy trò, chúng em muốn góp thêm hai câu chuyện bình thường ở trên, bình thường như những mẩu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, để kính xin được thưa rằng chúng em vẫn hằng nâng niu, vẫn hằng ấp ủ những giá trị thiêng liêng của mối liên hệ Thầy trò mà chúng em được thừa hưởng không điều kiện từ lúc còn thảnh thơi, biếng học, ham chơi cho đến ngày nay, với gánh nặng bản thân, gia đình, đất nước trên vai.
     
    Không may mắn thay, từ những mâu thuẫn trước ngày 01 tháng 08 năm 2009 vừa qua, chúng em lại một lần nữa phải nhìn nhận rằng trải qua các thời đại thì kẻ nghịch tử, phản đồ lúc nào cũng có, chỗ nào cũng có, nhưng đi khắp từ Đông sang Tây, từ Âu sang Á, chẳng có một dân tộc tự do nào lại chấp nhận, cổ võ hay tôn vinh những phần tử tự mình chối bỏ những giá trị nhân bản thật sơ đẳng như những người ấy. Nhưng họ có bao nhiêu hay chỉ đếm được trên đầu ngón của một bàn tay; và họ làm được gì hay chỉ khua nên những âm thanh vang dội nghe lạch tạch như những viên pháo lép?
     
    Quý Thầy Cô rất yêu mến của chúng em,
     
    Trong cuộc sống, có những ước mơ đã trở thành hiện thực bên cạnh những giấc mộng tàn phai bị đẩy chìm vào quên lãng.
    Cũng vậy, trong một đàn con, tàn nhẫn thay, chúng ta không thể chối bỏ sự hiện hữu của những đứa ngỗ nghịch, cãi lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ phiền lòng khôn nguôi. Nhưng may mắn thay, cũng còn có những đứa hiếu thảo, vâng lời Cha Mẹ, làm Cha Mẹ nở mặt hãnh diện.
     
    Lá thư này được gởi đến Quý Thầy Cô trong sự muộn màng, khi những đổ vỡ, mất mát đã xảy ra. Nhưng có một cái gì đó thôi thúc chúng em, như đã từng thôi thúc cô bé bán diêm phải đánh lên ánh lửa cỏn con dù biết đó là que diêm cuối. Giữa tối tăm muôn trùng, từ nguồn sáng nhỏ nhoi của tâm hồn ấy, chúng em vẫn còn nhìn thấy hình ảnh của Quý Thầy Cô là những người chúng em hằng kính trọng và yêu thương; giữa thét la kêu gào, trong một giây phút lắng đọng, chúng em vẫn còn nghe thấy những tiếng gọi, những lời khuyên của Quý Thầy Cô, dịu êm như những kỷ niệm một thời chúng em còn cắp sách đến trường.
     
    Vâng, cho dù đó là que diêm cuối cùng, cho dù đó là một lần sau chót, chúng em vẫn phải đánh lên. Phải đánh lên một nguồn sáng nhỏ nhoi cho tâm tư được lắng đọng một giây, một phút.
     
    Kính chúc Quý Thầy Cô vạn sự bình an.
     
    Lê Quốc Hưng
    Nguyễn Thế Đức
    Trần Hiếu Đễ
    Trần Nguyên Hùng